Đặt vấn đề Hiện nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì nền kinh tế nước ta cũng thay đổi từng ngày theo chiều hướng đi lên. Sự thay đổi diễn ra ở các ngành nghề lĩnh vực khác nhau theo những mức độ khác nhau. Cùng với sự phát triển chung của ngành kinh tế thì ngành lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Rừng đóng một vai trò quan trọng đối với con người, rừng không chỉ cung cấp gỗ, củi và các lâm đặc sản cho nền kinh tế quốc dân mà rừng còn tạo cảnh quan khu vực sinh thái, là lá phổi xanh của nhân loại, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường và còn nhiều tác dụng to lớn khác, nhưng bên cạnh đó thì nhu cầu của con người đối với rừng và các sản phẩm từ rừng cũng ngày càng cao, trong khi diện tích rừng tự nhiên của nước ta đang bị thu hẹp ở mức báo động.
Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng khai thác nguồn tài nguyên rừng bừa bãi, tiếp tục phủ xanh diện tích đất trống đồi núi trọc, tiến hành trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, trồng rừng sản xuất tập trung nhằm đáp ứng các nhu cầu về các nguyên liệu gỗ cho các nhà máy giấy, nhà máy sợi, các nhà máy xí nghiệp chế biến ván dăm và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ khác. Tuy nhiên, khi trồng rừng trên một diện tích lớn số lượng cây nhiều và trồng thuần loài lại rất dễ bị sâu, bệnh hại phát sinh phát triển. Để đạt được kểt quả tốt của việc trồng rừng thì điều quan trọng nhất ở đây là phải tạo được nhiều cây giống tốt, khỏe mạnh, không bị sâu hại và không có mầm bệnh. Muốn được như vậy thì ngoài việc chọn được hạt giống tốt, bảo quản hạt giống tốt đối với những cây có khả năng tái sinh bằng hạt, những phương pháp xử lý trước khi gieo ươm thì việc phòng trừ sâu bệnh hại ở giai đoạn 2 vườm ươm là không thể thiếu được nếu giải quyết được vấn đề đó thì tổn thất do bệnh hại gây ra sẽ giảm xuống một cách đáng kể.
Do vậy cần phải có các biện pháp phòng trừ bệnh hiệu quả và kịp thời để phòng trừ bệnh đạt hiệu quả cao nhất trong đó biện pháp hóa học là một biện pháp có hiệu quả tiêu diệt bệnh hại cao, dập dịch kịp thời và ít tốn thời gian. Tuy nhiên thuốc hóa học trên thị trường có rất nhiều loại muốn phòng trừ bệnh hiệu quả thì phải lựa chọn đúng loại thuốc. Các loài cây con được gieo ươm ở miền Bắc nước ta hiện nay chủ yếu là Keo, Mỡ, Thông, Bạch Đàn. Trong đó các bệnh hại Mỡ như thán thư lá, thối cổ rễ thường gây hại nặng ảnh hưởng không ít đến số lượng, chất lượng cây Mỡ trước khi xuất vườn, gây nên những tổn thất đối với việc kinh doanh cây giống Lâm nghiệp nói chung.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo nghiệm hiệu lực một số loại thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh hại chính cây Mỡ (Manglietia glauca BL.) trong giai đoạn vườn ươm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được các loại bệnh chính ở cây mỡ trong giai đoạn vườn ươm. - Xác định các loại thuốc hóa học có hiệu lực nhất so với các loại thuốc đem khảo nghiệm và đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh hại chính đối với cây mỡ ở giai đoạn vườn ươm. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong khoa học - Giúp sinh viên củng cố, hệ thống lại những kiến thức đã học. - Quá trình làm đề tài đã giúp tôi nắm vững phương pháp điều tra, đánh giá bệnh hại tại vườn ươm. 3 - Quá trình thực hiện đề tài giúp tôi nắm vững trình tự các bước trong nghiên cứu một đề tài khoa học. - Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để xác định loại thuốc hóa học có hiệu lực nhất tránh tình trạng thuốc không có tác dụng đối với bệnh hại.
- Học tập hiểu biết thêm kinh nghiệm về kĩ thuật được áp dụng trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo trong phòng trừ bệnh hại cây Mỡ nói riêng và cây con Lâm nghiệp tại vườn ươm nói chung.Ý nghĩa thực tiễn - Quá trình thu thập số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất. - Kết quả của quá trình khảo nghiệm sẽ xác định được các loại thuốc hóa học có hiệu lực cao trong phòng trừ bệnh hại chính cho cây trong giai đoạn vườn ươm. Từ đó có thể ứng dụng trong công tác phòng trừ bệnh tại vườn ươm Trường đại học Nông Lâm nói riêng và các vườn ươm khác nói chung.
Góp phần nâng cao chất lượng cây giống, đáp ứng mục tiêu kinh doanh. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Ở giai đoạn vườn ươm cây con đang trong thời gian sinh trưởng mạnh, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài dẫn đến bệnh hại cây con. Cây mỡ ở giai đoạn vườn ươm thường mắc các bênh chủ yếu như: thối cổ rễ cây con, cháy lá, thán thư lá,… nguyên nhân chủ yếu do nấm gây ra.
Do vậy, trong khi ở vườn ươm xuất hiện bệnh về phương pháp phòng trừ là cần tìm ra một loại thuốc có hiệu quả cao nhất, có lợi về mặt kinh tế nhằm hạn chế tác hại của bệnh bảo vệ giúp cây sinh trưởng tốt. Trong thực tế có rất nhiều biện pháp hóa học có tác dụng phòng trừ các bệnh hại trong vườn ươm và mang lại tác dụng đáng kể. Việc sử dụng thuốc hóa học như phun các loại thuốc có tác dụng đến nấm bệnh để trực tiếp tiêu diệt sợi nấm, bào tử nấm trên lá, vỏ cây, thân cây… Đồng thời nó cũng phát huy tác dụng phòng bệnh tránh lây lan cho những cây khác. Biện pháp hóa học được xem là một biện pháp trừ bệnh hiệu quả và có tác dụng kịp thời bởi vậy mà nó được sử dụng rộng rãi khi cần thiết.
Ở nước ta một số thí nghiệm dùng hóa chất để chống bệnh cây đã đem lại kết quả tốt và được ứng dụng trong phòng ngừa bảo vệ cây không bị bệnh. Thuốc bảo vệ được sử dụng khi phun thuốc lên cây, lên trên lá, thân cây có bào tử nấm không cho bào tử nấm thì thuốc sẽ ngăn ngừa bào tử nấm nảy mầm hoặc tiêu diệt nấm không cho bào tử nấm xâm nhập vào bên trong mô thực vật được. Khi bệnh đã xâm nhập vào rồi thì ta phải dùng thuốc chữa bệnh (Đặng Kim Tuyến, 2005) [16]. Thuốc bảo vệ cũng được dùng để phun lên cây chưa bị nhiễm bệnh.
Nếu trong quá trình hình thành bào tử nấm không bị ngăn chặn thì ở giai đoạn nào đó trong chu kì phát triển nấm phải bị tiêu diệt khi chưa xâm nhập vào 5 cây mới. Thuốc bảo vệ bằng cách trực tiếp tiêu diệt nguồn bệnh gọi là thuốc diệt nấm. Phun thuốc diệt nấm trực tiếp vào ổ bệnh cây bệnh để tiêu diệt nấm trước khi lây lan sang cây khác.Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Hiện tượng gây bệnh cho cây gỗ và những tổn thất do chúng gây ra đã có những ghi nhận nhưng đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX bệnh cây rừng mới trở thành môn khoa học thực sự.
Từ thời kì cổ đại đến giữa thế kỉ XIX: Thời kì này con người chưa thực sự hiểu rõ nguyên nhân gây bệnh, mặt khác do hệ ý thức duy tâm còn đang khống chế, con người cho rằng mọi nguyên nhân gây ra bệnh cây đều do thần thánh (thần Robigo). Đầu thế kỉ XVIII có nhiều giả thiết cho rằng bệnh cây là do nấm gây ra, năm 1711 người ta đã tìm ra mối quan hệ giữa nấm phấn đen với biện pháp xử lí hạt giống Dillen (1719), Minichi (1725) nhà phân loại thực vật đã đưa nấm vào bảng phân phối (Weber (G. Từ giữa thế kỉ XIX đến cuối thế kỉ XIX: Đây là thời kì xác nhận bản chất vật gây bệnh. Khoa học bệnh cây rừng được xem như một phân nhánh của khoa học bệnh cây.
Người đã sáng lập ra môn khoa học bệnh cây rừng là Robert Hartig trong khi nghiên cứu bệnh cây rừng lần đầu tiên ông đã phát hiện ra sợi nấm trong gỗ và mối quan hệ giữa hình thành thể quả nấm đến hiện tượng mục gỗ. Cho đến nay có nhiều bệnh cây rừng xuất hiện, trong tất cả vật gây bệnh thì nấm chiếm số lượng lớn nhất tới 83% gồm các bệnh hại lá, thân, cành, rễ và năm 1882 ông đã viết cuốn bệnh cây rừng đầu tiên (Gibson (I. Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX được xem là thời kì phát triển tương đối của khoa học bệnh cây. Thời kì này các nhà bác học tập chung vào phân 6 loại bệnh cây và điều tra mức độ bị hại, sau đó nghiên cứu biện pháp phòng trừ các loại bệnh chủ yếu và người đầu tiên đề cập đến những chủng loại và mức độ bị hại liên quan đến sinh lí cây rừng, sinh thái cây chủ và vật gây bệnh là G.Hapting (1940 - 1970) nhà bệnh lí cây rừng người Mỹ.
Trong thời kì này ngoài việc phát hiện nấm là vật gây bệnh, các nhà khoa học còn phát hiện ra virut do Ivanopski (1864 – 1927), vi khuẩn do Berin (1938 – 1916) (Gibson (I. Cũng trong thời kì này các vấn đề về sinh thái bệnh cây, miễn dịch cây trồng đã được nghiên cứu đến và giải quyết được những nhu cầu cơ bản trong sản xuất đương thời. Đến thế kỉ XIX các nhà khoa học bệnh cây do nấm gây ra. Những người có cống hiến nghiên cứu quyết định là bác học người Đức Anton Đơbari (1831 – 1888), nhà bác học người Nga Voronin (1838 – 1903)… Ngay từ năm 1953 Anton Đơbari đã công bố các tài liệu nghiên cứu lịch sử nấm than đen, nấm gỉ sắt, nấm mốc sương.
Qua đó khẳng định luận điểm của mình là nấm kí sinh không phải là hậu quả mà là nguyên nhân gây bệnh cây. Ông là người đầu tiên dùng phương pháp lây bệnh nhân tao để xác minh nấm Phytophthorainfstans là sinh vật gây nấm mốc sương khoai tây đã phá hủy khủng khiếp ở Châu Âu (Weber (G.