Chương 1 TONG QUAN 1.1 Giới thiệu về giống ga Cobb 500 Gà Cobb 500 là gà thịt cao sản, có nguồn gốc từ Mỹ, bộ lông trắng dày và rậm, cánh nhỏ, thân hình bau, đẹp, chân cao khỏe, phần ngực chiếm phan lớn cơ thé. Tăng trọng nhanh, hệ số chuyển hóa thức ăn thấp. Sức đề kháng và thích nghi tốt, dé nuôi, mau lớn. Gà trống nuôi 42 ngày tuổi nặng 2,8 - 2,9 kg/con, ga mái nuôi 42 ngày tuổi nặng 2,4 - 2,5 kg/con.
Hạn chế của giống gà này là gà chịu nóng kém, dé bị stress nhiệt (phần lớn các nước nhiệt đới nhiệt độ lớn hơn 24°C có lúc lớn hơn 30°C là gà bị stress), sức đề kháng kém vì vậy cần có qui trình chăm sóc và thú y chặt chẽ. Giống gà Cobb 500 được công ty nhập từ Cobb-Vantress của Mỹ. Gà Cobb 500 giống được nuôi với mục đích sản xuất gà con. Sau đó, lượng gà con này sẽ tiếp tục được nuôi ở các trang trại gia công của công ty va một sô khác bán ra thị trường.1 Gà Cobb 500 (cobb-vantress.1 Định nghĩa chất nhũ hóa Chất nhũ hóa là nhóm chất hoạt động bề mặt, được sử dụng dé phân tán chat béo trong nước.
Chất nhũ hóa được biết là có tác dung làm tăng diện tích bề mặt hoạt động của lipase dé phân cắt các khối chất béo lớn thành những giọt chất béo nhỏ hơn, do đó hỗ trợ quá trình hap thy lipid trong thức ăn (Ko và cs, 2023; Siyal và cs, 2017).2 Cấu tạo và tính chất của chất nhũ hóa Chất nhũ hóa là chất phụ gia được sử dụng đề giúp hai chất béo và nước không bị tách lớp. Chất nhũ hóa có một đầu ưa nước (ky dầu) và một đầu ưa dầu (ky nước). Khi chúng được thêm vào dung dịch chứa hai chất lỏng không thể hòa tan, các phân tử chất nhũ hóa tự định vị dọc theo lớp được gọi là lớp giao thoa nơi dầu tách ra khỏi nước. Ở đây, chất nhũ hóa được định vị sao cho đầu ưa nước của chúng hướng về pha nước và đầu ưa dầu của chúng hướng về pha dầu, làm cho nước và dầu có thể phân tán mịn vào nhau.
Cuối cùng, chất nhũ hóa tạo ra nhũ tương 6n định và đồng nhất. Nguyên nhân là đo các phân tử nước chỉ tạo thành các lực liên kết hiđrô trong khi các phân tử mỡ chỉ tạo thành các lực van der Waals. Lực van der Waals là một loại tương tác giữa các phần tử có tiếp xúc với nhau. Chất nhũ hóa như xà phòng có thé liên kết các chất lỏng này.
Chúng có tinh chất này vì các phân tử của chất nhũ hóa có một phần phân cực và một phần không phân cực. Phần phân cực có thể tạo liên kết hiđrô và liên kết với các chất lỏng ưa nước trong khi phần không phân cực của phân tử tạo nên lực van der Waals và liên kết với các chất ky nước. Điều này giải thích tác dụng tay rửa của xà phòng: xà phòng làm giảm sức căng bề mặt của nước va tạo điều kiện rửa các chất chỉ tan trong dầu mỡ bằng cách cho thêm nước vào. Trong sữa, chất nhũ hóa là các protein có trong sữa.
Tùy theo môi trường chất phân tán mà người ta gọi là nhũ tương dầu trong nước (oil in water: o/w) trong đó dau là pha phân tán, nước là môi trường phân tán hay nhũ tương nước trong dau (water in oil: w/o) trong đó nước là pha phân tan, dầu là môi trường phân tán. Trong một số trường hợp, có thể có nhũ trương kép, có thê là nhũ tương "nước/dâu/nước" và nhũ tương "dâu/nước/dâu". Việc lựa chọn chất nhũ hóa và loại dầu là một bước quan trọng để đạt được năng suất chăn nuôi tốt. Chỉ số chính được sử dụng như một phần của quá trình lựa chọn chất nhũ hóa là hệ số cân bằng ưa nước ưa dầu (Hydrophilic-lipophilic balance: HLB), vì chỉ số này cho biết khả năng hòa tan trong chất béo và nước trong phạm vi từ 0 đến 20.
HLB thấp cho thấy chất nhũ hóa sẽ hòa tan trong chất béo nhiều hơn. Ngược lại, HLB cao cho thấy chất nhũ hóa hòa tan trong nước nhiều hơn. Vì gà tiêu thụ nước nhiều hơn thức ăn gấp 1,5 - 2 lần nên lượng nước sẽ vượt quá chất béo trong đường tiêu hóa. Trong trường hợp nay, HLB cao sẽ thích hợp hơn (Siyal va cs, 2017).
is N Đâu ưa nước 4¬ ! Đuôi ưa béo Chất nhũ hóa - Mechanical stirring Pha dau Ả Mechanical stirring Phanước ~ (©) (4) Hình 1.2 So đồ trình bày quá trình nhũ hóa (Singh va cs, 2022) Trong đó (a) và (c) thé hiện các pha dầu và nước trước khi thêm chất nhũ hóa (b) hình thành dau trong nước O/W, (d) hình thành nhũ tương nước trong dầu W/O 1.3 Phân loại chất nhũ hóa Chất nhũ hóa được sử dụng trong dinh dưỡng gia cầm dé cải thiện năng suất, khả năng tiêu hóa các chất đinh dưỡng, đặc biệt là chất béo, có thể được phân thành hai nhóm là chất nhũ hóa tự nhiên và tông hợp. Chất nhũ hóa tự nhiên bao gồm lecithin đậu nành, casein có nguồn góc từ sữa, lysophatidylcholine hoặc lysolecithin (lecithin), muối mật. Chất nhũ hóa tổng hop bao gồm glycerol polyethylene glycol ricinoleate (GPGR E484) và natri stearoyl-2-lactylate (SSL), v.4 Chức năng chất nhũ hóa trong thức ăn chăn nuôi Chất nhũ hóa bé sung trong thức ăn chăn nuôi đã được xác định là làm tăng hiệu quả sử dụng chất béo trong khẩu phần và cải thiện khối lượng cơ thể sống và hệ số chuyên hóa thức ăn (FCR) ở gà thịt (Siyal và cs, 2017; Dierick và Decuypere, 2004; Jones và cs, 1992). Ngoài ra, sự tổng hop muối mật vẫn ở mức thấp ở gà giai đoạn đầu (Serafin và Nesheim, 1970; Smallwood và cs, 1970; 1972), và muối mật được bổ sung vào khẩu phần ăn giúp hấp thụ chất béo tốt hơn (Polin, 1980) và cải thiện năng suất ở gà con (Jin va cs, 1998; Dierick và Decuypere, 2004; Dersjant và Peisker, 2005).
Các chất nhũ hóa tổng hợp như polyoxyethylene glycol mono và dioleates cho kết quả tốt trong việc sử dụng chất béo (Frobish và cs, 1969). Chất nhũ hóa trong thức ăn rất hữu ich dé tăng tông bề mặt enzyme cần thiết cho quá trình tiêu hóa chất béo (Jones và cs, 1992; Roy và cs, 2010). Nồng độ lipoprotein va lipid huyết tương là đại diện cho sự điều hòa trao đôi chat và điều chỉnh sự vận chuyên axit béo giữa mô mỡ và gan (Amal và cs, 2002). Các nghiên cứu đã xác định rang lecithin, một phosphatidylcholine có chứa phospholipid, có đặc tính hạ cholesterol máu (Thomas và cs, 1998).
Nhiều nhà nghiên cứu đã báo cáo chất nhũ hóa mang lại kết quả tốt về khả năng tiêu hóa, FCR, tăng khối lượng và mỡ bụng ở gà thịt (Udomprasert và Rukkwamsuk, 2006; Roy và cs, 2010).1 Chức năng của các loại chất nhũ hóa Loại chất nhũ hóa Chức năng chính Nguồn tham khảo Chất nhũ hóa tự nhiên Cai thién nang suat, HDL, chat béo trung tinh, Triglycerides, hormon kich Siyal va cs, 2017 Lecithin đậu nành thich tuyén giap, biéu hién Huang va cs, 2007 cac gen tich m6 6 gan, giảm cholesterol tổng số và LDL trong huyết thanh. Cải thiện tăng trọng, FCR, tiết enzyme lipase, tăng tiêu hóa chất béo không Casein từ sữa Guerciro va cs, 2011 ảnh hưởng đến đặc điểm thân thịt, cholesterol huyết thanh HDL, triglycerides. Cai thién tang trong, FCR, hệ số tiêu hóa biểu kiến Lysophosphatidylcholine (TTAD) của C16:0, C18:2, Melegy va cs, 2010 hoặc lysolecithin C18:3n3, C18:1n7, Zhang va cs, 2011 (lecithin) C18:1n9 axit béo, cai thién Azmen va Cifici, 2004 chat lượng thân thịt và tỷ lệ cho ăn. Cải thiện khối lượng các bộ phận liên quan.
Cải thiện đáng kê khối lượng sống. Giảm cholesterol LDL Alzagarl va cs, 2010 huyết thanh. Muôi mat Gomez va Polin, 1976 Tăng chuyền hóa năng Kussaibati va cs, 1982 lượng. Tăng năng suất và hoạt động enzyme tiêu hóa trong đường tiêu hóa cho gà thịt.
Chat nhũ hóa tong hợp Tăng năng suất, hiệu quả Glycerol polyethylene Roy va cs, 2010 sử dụng và hấp thu chất glycol ricinoleate E484 Yoedan va cs, 2013 béo, CP, ME. Sodium stearoyl-2- Flores va cs, 2007 Tăng khối lượng sông và lactylate (SSL) các bộ phận liên quan.5 Volamel Extra Volamel Extra (VE) là một sản phẩm nhũ hóa tong hợp được sản xuất bởi công ty Nukamel đến từ Bi. VE có thành phần thuộc nhóm Glycerol polyethylene glycol ricinoleate (GPGR) là este cua ethylene oxit và dau recinus E484 (dau cay thầu dau). Volamel Extra có tính chat ưa nước cho nên nó được hòa tan trong pha nước ở ruột non.
Do đó, không giống như các chất nhũ hóa thông thường, như lecithin đậu nành, nó tiêu tốn ít năng lượng dé hòa tan bằng cách khuấy cơ học trong ruột — một tiêu chí đủ tiêu chuẩn dé sản phẩm được gọi là 'chất nhũ hóa dinh dưỡng'. Volamel Extra hoạt động phối hợp với muối mật tự nhiên trong ruột động vật để tạo điều kiện tiêu hóa chất béo. Volamel Extra giúp tăng cường hap thu chất béo, vitamin tan trong chất béo và các chất dinh dưỡng khác bang cách nhũ hóa (hoạt động lipase hiệu qua hơn trên các giọt chất béo nhỏ hơn) và hình thành các mixen (nhiều mixen nhỏ hơn làm tăng khả năng hấp thụ chất béo).6 Sử dụng chất béo trong chăn nuôi gia cầm Mỡ va dầu được sử dụng trong ngành chăn nuôi gia cầm được lấy từ nguồn thực vật cũng như động vật. Mỡ động vật, mỡ cá vả mỡ gia cầm có nguồn sốc từ động vật trong khi dầu thu được từ nguồn thực vật là dau bắp, dầu đậu nành và dầu hướng dương và đang được sử dụng làm nguồn năng lượng trong thức ăn của gia cầm (Tabeidian và cs, 2005).
Bồ sung chất béo và dầu trở nên phố biến trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên ở động vật khi mới sinh, hệ tiêu hóa chưa phát trién đầy đủ nên không thé sử dụng thức ăn giàu chất béo vì sự tiết lipase và axit mật ít hơn ở tuần đầu tiên và có xu hướng tăng theo độ tuôi cho đến ngày thứ 21, điều này cho thấy gia cam không thé sử dụng chất béo một cách hiệu quả ngay từ khi còn nhỏ (Noy và Sklan, 1995). Ngoài việc cung cấp năng lượng trong thức ăn, việc kết hợp chất béo và dầu trong thức ăn của gà thịt giúp cải thiện khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng và cho thấy năng suất tốt hơn so với những khâu phần ăn được chế biến không có chất béo và dau có thành phần dinh dưỡng tương tự (Poorghasemi và cs, 2013; Jaapar và cs, 2020).