MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nông nghiệp giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp không lớn nhưng khối lượng sản phẩm nông nghiệp vẫn không ngừng tăng lên và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thực tiễn lịch sử của các nước trên thế giới đã chứng minh chỉ có thể phát triển kinh tế nhanh chóng chừng nào đã có sự an toàn lương thực.
Nếu không đảm bảo an toàn lương thực thì khó có thể ổn định về chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển. Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước nền nông nghiệp nông thôn của nước ta đã có những bước phát triển nhanh, liên tục và khá toàn diện. Đặc biệt là sản xuất lương thực đã góp phần quan trọng vào ổn định đời sống, chính trị tạo cơ sở thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Những năm qua, cây dong riềng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng của tỉnh Bắc Kạn.
Có thể nói cả hệ thống chính trị của tỉnh Bắc Kạn đã vào cuộc cho sự phát triển của cây dong riềng và sản phẩm miến dong. Tỉnh lấy nông-lâm nghiệp là trọng tâm trong phát triển kinh tế và cây dong riềng được chọn là cây mũi nhọn, bởi lợi thế của loại cây này: Dễ trồng, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và cho giá trị kinh tế cao. Ở tỉnh Bắc Kạn, địa hình hiểm trở, chủ yếu là đồi núi, độ dốc cao, từ trước đến nay, chưa có loại cây nào dễ trồng, trồng trên diện rộng, phù hợp với trình độ canh tác của nông dân chủ yếu là người dân tộc thiểu số mà lại mang lại hiệu quả kinh tế cao như cây dong riềng. Dong riềng là cây dễ trồng, phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu nên phát triển tốt, bán được giá nên diện tích trồng ở tỉnh Bắc Kạn tăng nhanh, năm 2012 đạt 1.848 ha, gấp hơn ba lần so với năm 2011.
Bước vào vụ dong riềng năm 2013, được sự quan tâm của tỉnh, huyện và các ngành chức năng, đến nay trên địa bàn huyện Na Rì đã thành lập được 50 cơ sở, hợp tác xã chế biến tinh bột, sản xuất miến dong (tăng 8 cơ sở so với năm 2012) [11]. Hầu hết các cơ sở này đều có dây chuyền sản xuất với công suất chế biến từ 5 tấn củ/ngày trở lên. Trong 50 cơ sở chế biến tinh bột 2 và miến dong thì có 21 cơ sở sản xuất miến và 29 cơ sở chế biến tinh bột từ 6 - 10 tấn củ/ngày trở lên. Với những chính sách như hỗ trợ giống, hỗ trợ 2/3 kinh phí cho những hộ mới trồng dong riềng năm đầu khi mua giống, khuyến khích hỗ trợ các hợp tác xã chế biến dong riềng mới thành lập, thực hiện hỗ trợ vôi bột để xử lý giống dong riềng trước khi trồng.
đang được triển khai đã giúp chính quyền các cấp ở huyện Na Rì đạt được những kết quả nhất định trong việc duy trì ổn định diện tích trồng và chế biến dong riềng ở địa phương. cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì đã tăng lên nhanh chóng, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ dân trên địa bàn. Dong riềng đã trở thành một trong những loại cây trồng có thế mạnh, giúp nhiều hộ dân huyện Na Rì nói chung, xã Đổng Xá nói riêng thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Mục tiêu của huyện Na Rì là khuyến khích bà con trồng và hỗ trợ đầu tư máy móc, giống, phân bón cho nông dân trồng và chế biến, tiêu thụ sản phẩm nhằm phát triển ổn định trong những năm tiếp theo.
Tuy nhiên Đổng Xá là một xã có địa hình miền núi khá phức tạp, đất đai bị chia cắt bởi nhiều hệ thống khe suối và đồi núi cao do đặc thù đất đai còn manh mún nhỏ lẻ, độ màu mỡ thấp, hệ thống kênh mương đã có nhưng vẫn chưa được đảm bảo, mà năng suất chất lượng cây trồng, vật nuôi chưa cao, đời sống nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Vậy hiệu quả kinh tế cây dong riềng mang lại là như thế nào? Có mang lại lợi ích kinh tế cao hơn các cây trồng khác không? Dong riềng thu nhập có tăng lên, đời sống của người dân có cải thiện không? Tại sao diện tích trồng dong riềng lại tăng lên như vậy? Trong quá trình trồng dong riềng người dân gặp phải những khó khăn gì? Đề tài của tôi tập trung trả lời các câu hỏi nêu trên và trên cơ sở đó tìm các giải pháp giải quyết những khó khăn tồn đọng, xuất phát từ mô hình trên tôi đã tiến hành chọn và nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả của cây dong riềng tại xã Đổng Xá - huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn ”. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá hiệu quả của cây dong riềng tại xã Đổng Xá - huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được thực trạng sản xuất dong riềng tại xã Đổng Xá – Na Rì – Bắc Kạn. - Đánh giá được mức độ tham gia của người dân đối với sản xuất dong riềng. - Đánh giá được hiệu quả của sản xuất dong riềng tại xã Đổng Xá – huyện Na Rì – tỉnh Bắc Kạn. - Phân tích tính bền vững của việc sản xuất dong riềng.
- Tìm ra được những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện sản sản xuất dong riềng, đề xuất được giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của cây dong riềng trong thực tiễn sản xuất. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế. - Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này.
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế. - Nghiên cứu đề tài là cơ hội để mỗi sinh viên vận dụng những kiến thức đã học vào trong nghiên cứu khoa học và là cơ sở để hình thành các ý tưởng sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Từ kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đưa ra được tình hình sản suất cây dong riềng tại địa phương.
Từ đó đưa ra những nhận xét về hiệu quả, tiềm năng, thế mạnh và những khó khăn, trở ngại trong quá trình sản xuất dong riềng và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của cây dong riềng. - Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên của các lớp khóa sau. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về mô hình 2.
Lý luận chung về mô hình * Khái niệm mô hình Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận. Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu đều có những ưu điểm riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Mô hình là một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu riêng.
Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại. Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu. Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu. Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế.
Như vậy, mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu. Trong thực tế, để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau. Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để 5 mô phỏng và trình bày là khác nhau.
Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm và đều được thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu. * Mô hình sản xuất Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức lao động của chính mình. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh sự phát triển của các công cụ sản xuất - yếu tố không thể thiếu trong nền sản xuất. Từ những công cụ thô sơ nay đã được thay thế bằng những công cụ sản xuất hiện đại làm giảm hao phí về sức lao động trên một đơn vị sản phẩm, đó là mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại.