ĐẶT VẤN ĐỀ Đau vùng cổ gáy (Mã ICD 10: M54.2) là một triệu chứng thường gặp trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có tới 48,5% dân số trưởng thành mắc bệnh tại một thời điểm trong đời [1], [2]. Nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu 2019 công bố trên tạp chí Lancet (2020) cho thấy đau vùng cổ gáy là một gánh nặng bệnh tật lớn, với tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ mắc mới, số năm sống mất đi do bệnh tật cao [3]. Có nhiều nguyên nhân gây đau vùng cổ gáy, trong đó đau vùng cổ gáy do thoái hoá cột sống cổ (THCSC) là nguyên nhân thường gặp trong thực hành lâm sàng [2]. Thoái hóa cột sống cổ (Cervical spondylosis) là bệnh lý mạn tính, tổn thương cơ bản là tình trạng thoái hóa sụn khớp và/hoặc đĩa đệm ở cột sống cổ, do tình trạng biến đổi hóa sinh học và cơ sinh học xảy ra mạn tính ở đĩa đệm, sụn bề mặt thân đốt sống, mô xương dưới sụn, khớp liên mấu và khớp mỏm móc vùng cột sống cổ [4], [5], [6].
Tại Việt Nam, thống kê về THCSC và đau vùng cổ gáy do THCSC còn chưa nhiều, tuy nhiên theo nghiên cứu của Trần Ngọc Ân tại khoa Cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai, THCSC chiếm 14% trong bệnh lý thoái hóa khớp [7]. Một nghiên cứu tại Bệnh viện Quân Y 103 năm 2017 cho thấy, THCSC đứng thứ 2 và chiếm 23,6% trong các bệnh thoái hóa khớp [6]. Đau vùng cổ gáy ảnh hưởng đến sức khoẻ và chất lượng cuộc sống người bệnh. Cho nên nghiên cứu điều trị bệnh là mối quan tâm của nhiều chuyên ngành.
Theo Y học hiện đại (YHHĐ), phương pháp điều trị đau vùng cổ gáy do THCSC chủ yếu là điều trị triệu chứng, nội khoa kết hợp với vật lý trị liệu, phục hồi chức năng. Mục tiêu điều trị là giảm đau, cải thiện vận động cột sống cổ, giảm tình trạng co cơ và hạn chế ảnh hưởng đến sinh hoạt của người bệnh [4], [5], [6]. Theo Y học cổ truyền (YHCT), đau vùng cổ gáy do THCSC thuộc phạm vi chứng Tý. Nguyên nhân gây bệnh do vệ khí của cơ thể suy yếu, tà 2 khí từ bên ngoài thừa cơ xâm phạm vào cân, cơ, khớp, xương, kinh lạc… làm bế tắc kinh mạch, khí huyết không lưu thông gây đau; hoặc do người già chức năng tạng phủ suy yếu, thận hư không chủ được cốt tủy, can huyết hư không nuôi dưỡng được cân, mà gây ra xương khớp đau nhức, sưng nề, cơ bắp co cứng, vận động khó khăn.
Do đó pháp điều trị thường là khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinh hoạt lạc. Việc sử dụng bài thuốc uống cổ phương hay các phương pháp không dùng thuốc như điện châm, xoa bóp bấm huyệt… đã được chứng minh mang lại hiệu quả điều trị cao [8], [9]. Ôn kinh phương là chế phẩm dùng ngoài được nghiên cứu với tên gọi “Bột thuốc đắp HV”, gồm 5 vị thuốc Ngải cứu, Địa liền, Quế chi, Ô đầu, Dây gắm được sản xuất và nghiên cứu ở dạng thô tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh, có tác dụng khu phong trừ hàn, thông kinh lạc, chứng minh mang lại tác dụng khả quan trong điều trị bệnh lý cơ xương khớp [10], [11], [12]. Trên thực tế lâm sàng, chuyển dạng cao dán Ôn kinh phương có nhiều ưu điểm, thuận tiện trong quá trình điều trị.
Vì vậy, để đánh giá hiệu quả chuyển dạng cao dán Ôn kinh phương, giúp có thêm cơ sở khoa học cho bác sĩ lâm sàng có thêm sự lựa chọn trong điều trị, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá kết quả của cao dán Ôn kinh phương kết hợp điện châm và xoa bóp bấm huyệt trong điều trị Đau vùng cổ gáy” với hai mục tiêu sau: 1. Đánh giá kết quả của cao dán “Ôn kinh phương” kết hợp điện châm và xoa bóp bấm huyệt trong điều trị Đau vùng cổ gáy do thoái hoá cột sống cổ. Mô tả một số tác dụng không mong muốn của phương pháp điều trị. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đau vùng cổ gáy do thoái hóa cột sống theo Y học hiện đại 1. Khái niệm Đau vùng cổ gáy là một triệu chứng thường gặp trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu, với tỷ lệ mắc từ 10,4 đến 21,3% mỗi năm, là nguyên nhân hàng thứ tư gây ra tàn tật trên toàn thế giới. Tỷ lệ mắc đau vùng cổ gáy cao hơn ở người lớn tuổi, do sự biến đổi thoái hoá của khớp bề mặt và sự xẹp lún của đĩa đệm cột sống [13]. Phân loại đau vùng cổ gáy theo thời gian mắc bệnh [13], [14]: - Cấp tính: < 6 tuần, - Bán cấp: 6 tuần – 12 tuần.
- Mạn tính: > 12 tuần. Nguyên nhân cấp tính của đau vùng cổ gáy [13], [14]: - Nhiễm trùng: viêm đĩa đệm, áp xe ngoài màng cứng, herpes zoster, viêm màng não, viêm xương… - Bệnh lý viêm: viêm cột sống dính khớp, viêm đa cơ dạng thấp, viêm khớp dạng thấp… - Ung thư: ung thư xương, di căn, khối u tuỷ sống… - Bệnh lý tuỷ sống: xơ cột bên teo cơ, , viêm tuỷ ngang… - Tình trạng cấp cứu: lóc tách động mạch… Thoái hóa cột sống cổ (Cervical spondylosis) là bệnh lý mạn tính khá phổ biến, tiến triển chậm, thường gặp ở người lớn tuổi và/hoặc liên quan đến tư thế vận động. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa sụn khớp và/hoặc đĩa đệm ở cột sống cổ. Có thể gặp thoái hóa ở bất kỳ đoạn nào song đoạn C5-C6-C7 là thường gặp nhất.
Đau vùng cổ gáy là triệu chứng thường gặp của thoái hóa cột sống cổ [1], [4]. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh 1. Nguyên nhân Nguyên nhân thoái hoá cột sống cổ (THCSC) thường do các yếu tố như sau [15]: - Do quá trình lão hóa: các tế bào sụn và đĩa đệm giảm khả năng tổng hợp các sợi collagen và mucopolysaccharid. - Các yếu tố cơ giới: là yếu tố quan trọng đẩy nhanh quá trình lão hóa, thường được gọi là hiện tượng quá tải.
Ví dụ như yếu tố chấn thương, đặc biệt là các chấn thương mạn tính. - Các yếu tố khác: Cơ chế nhiễm khuẩn dị ứng, di truyền dị dạng cột sống, bệnh lý tự miễn, rối loạn nội tiết, chuyển hóa. Cơ chế bệnh sinh Tùy thuộc vào tuổi và bệnh lý mắc phải (do vi chấn thương, nhiễm khuẩn, dị ứng, rối loạn chuyển hóa, tự miễn…) mà cơ chế bệnh sinh của đau vai gáy do THCSC khác nhau. Hiện nay có hai lý thuyết được đề nghị để giải thích cơ chế bệnh sinh của đau vai gáy do THCSC.
Đó là lý thuyết cơ học và lý thuyết tế bào. Cụ thể, lý thuyết cơ học mô tả các vị trí gãy xương do giảm các sợi collagen dẫn đến việc hư hỏng các chất proteoglycan. Lý thuyết tế bào mô tả cơ chế tăng áp khiến tế bào sụn cứng lại, giải phóng các enzyme tiêu protein làm hủy hoại chất căn bản [15]. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng 1.
Triệu chứng lâm sàng Đau vùng cổ gáy là triệu chứng thường gặp nhất, thường đi kèm với biểu hiện đa dạng khác của bệnh THCSC. Trên lâm sàng, triệu chứng của THCSC gồm 5 hội chứng sau [4], [6], [15], [16]: Hội chứng cột sống cổ: gặp 100% các trường hợp, trên lâm sàng triệu chứng thường gặp nhất là đau vùng cột sống cổ: đau có thể kèm theo co cứng cơ cạnh cột sống cổ cấp hoặc mạn tính; triệu chứng đau tăng lên ở tư thế cổ 5 thẳng nghiêng hoặc cúi đầu kéo dài, mệt mỏi, căng thẳng, lao động nặng, thay đổi thời tiết đặc biệt bị nhiễm lạnh; có điểm đau cột sống cổ, hạn chế vận động cột sống cổ. Hội chứng rễ thần kinh: thường gặp khoảng 70% trường hợp, chủ yếu là tổn thương rễ C5-C6 (45% các trường hợp) với biểu hiện đầu tiên là các rối loạn cảm giác kiểu rễ [15]. Vị trí đau là đặc điểm quan trọng nhất: đau một bên, vị trí hằng định.
Rối loạn cảm giác có đặc điểm rễ. Đau tăng khi gắng sức, ho, song không rõ như trong trường hợp đau dây thần kinh tọa. Khi nằm ngửa, do áp lực dịch não tủy tăng lên, đau tăng, thậm chí nhiều khi bệnh nhân có thể không chịu đựng nổi [4]. Bệnh có thể kèm theo dị cảm vùng da do rễ thần kinh bị chèn ép như cảm giác tê bì, kiến bò, nóng rát… Giai đoạn sau có thể có các rối loạn vận động kiểu rễ: giảm vận động một số cơ chi trên tùy thuộc vào rễ thần kinh bị chèn ép (thường ít khi liệt), giảm hoặc mất phản xạ gân xương do rễ thần kinh chi phối bị chèn ép.
Teo cơ chi trên (có thể teo ô môi cái) ít gặp [6], [15]. Hội chứng động mạch đốt sống (hội chứng giao cảm cổ sau Barré Liéou): chiếm 35% các trường hợp. BN nhức đầu hoặc đau vùng chẩm từng cơn (chiếm 30%), đau lan tới vùng đỉnh, thái dương, tới hốc mắt, thường đau buổi sáng, đau một bên, chóng mặt, ù tai, tiếng ve kêu trong tai (chiếm 20%), đau tai, loạn cảm thành sau họng…) thường gặp ở nữ giới tiền mãn kinh hoặc mãn kinh. Trên lâm sàng BN khám phát hiện dấu hiệu rung giật nhãn cầu (chiếm 5%), hội chứng tiểu não, hội chứng giao bên.
Trên X-quang thường thấy hình ảnh hẹp khe gian đốt, gai xương, thoái hóa khớp – mỏm móc phía sau [4], [15]. Hội chứng chèn ép tủy cổ: Đây là hội chứng nghiêm trọng nhất và nguyên nhân phổ biến nhất của hội chứng tủy ở người cao tuổi. Trên lâm sàng BN thường dáng đi không vững, vận động hạn chế, dị cảm chi trên, chi dưới, 6 tê, yếu hoặc liệt tứ chi, teo cơ ngọn chi, rối loạn vận động và rối loạn cơ tròn. Khám phát hiện một số dấu hiệu sau: - Dấu hiệu Spurling: khi ấn đầu xuống trong tư thế ngửa cổ và nghiêng đầu về bên đau, BN xuất hiện đau từ vùng cổ lan xuống vai, cánh tay, cẳng tay và bàn tay.
Đây là dấu hiệu quan trọng đánh giá đau kiểu rễ. - Dấu hiệu Lhermitte: Cảm giác như điện giật đột ngột lan từ cột sống cổ xuống cột sống thắt lưng khi cúi cổ. Trong THCSC, dấu hiệu này chỉ gặp ở nhóm BN có hội chứng tủy cổ. Hội chứng rối loạn thần kinh thực vật: Đau nửa đầu hoặc vùng chẩm, chóng mặt, ù tai, mờ mắt hoặc mất thị lực thoáng qua, cơn rối loạn vận mạch, phù cứng ở hai bàn tay, mất nếp nhăn da bàn tay, có khi xanh tím, giảm nhiệt độ so với bên lành.
Ngoài ra còn một số dấu hiệu khác như viêm quanh khớp vai – cánh tay, hội chứng vai – tay, hội chứng nội tạng khác… 1. Triệu chứng cận lâm sàng Các xét nghiệm phát hiện dấu hiệu viêm, bilan Phosphor – calci thường ở trong giới hạn bình thường.