CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày một tăng do gia tăng dân số và sự phát triển của các đô thị.
Nơi nào dân cư càng tập trung đông đúc thì lượng nước thải sinh hoạt nhiều hơn và mức độ ô nhiễm của nước thải sinh hoạt cũng cao hơn những nơi tập trung ít dân cư. Với sự phát triển của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, số lượng các đô thị ngày càng tăng nhanh kéo theo đó là một lượng lớn dân cư đô thị. Chính vì vậy, lượng nước thải đô thị được thải ra môi trường ngày càng gia tăng. Các hệ thống thoát nước là rất cần thiết để hạn chế, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường, giảm tình trạng ngập úng cục bộ, đặc biệt là trong các đô thị lớn và các khu công nghiệp.
Tuy nhiên, mỗi địa phương đều có đặc thù khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nên hệ thống cơ sở hạ tầng nói chung và hệ thống thoát nước là khác nhau. Việc đánh giá hiện trạng hệ thống thoát nước sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm thiểu tình trạng ngập úng cục bộ cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. Cơ sở thực tiễn Quá trình đô thị hoá làm cho lưu lượng nước thải và nước mưa tăng nhanh trong những năm gần đây, các hệ thống thoát nước đô thị được cải tạo và xây dựng mới không đáp ứng kịp, nên tình trạng ứ đọng và ngập úng nước mưa, ô nhiễm nguồn nước mặt ngày càng trầm trọng, đặc biệt tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng.
Hiện nay do hậu quả của biến đổi khí hậu, dẫn đến các tình trạng thời tiết bất thường xảy ra ngày càng khó lường hơn, những cơn mưa lớn bất thường và kéo dài dẫn đến tình trạng ngập úng tại các đô thị ngày càng nghiêm trọng. Hệ thống thoát nước của các đô thị do đầu tư xây dựng không đồng bộ và đã xuống cấp, không đủ khả năng tiêu thoát nước sau các trận mưa lớn đã gây ra tình trạng ngập úng tại các khu vực trũng của các đô thị, làm tê liệt mọi hoạt động của con người trong nhiều giờ sau khi mưa. Do đó, việc đánh giá hiện trạng hệ thống thoát nước đô thị để đề n 4 xuất được các giải pháp tốt giảm thiểu tình trạng ngập úng tại các khu vực hay xảy ra ngập úng là rất thiết thực. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường ngày 29/11/2005; - Luật Tài nguyên nước 17/2012/QH13; - Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 của Chính phủ về Thoát nước đô thị và khu công nghiệp; - Thông tư số 09/2009/TT-BXD ngày 21/5/009 của Bộ Xây dựng Quy định chi tiết thực hiện một số nội dung của Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 8/5/2007 của Chính phủ về thoát nước đô thị và khu công nghiệp - Quyết định số 1930/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát triển thoát nước đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050.
- Tiêu chuẩn TCXD 51-1984 Thoát nước, Mạng lưới bên ngoài và công trình; TCVN 4116 - 1985 Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép; TCVN 4118 - 1985 Hệ thống kênh tưới; TCVN 4253 - 1986 Nền các công trình thủy công; TCVN 5060 - 1990 Công trình thủy lợi; - Quy chuẩn xây dựng Việt Nam 439/BXD - CSXD; Quy chuẩn xây dựng Việt Nam 682/BXD - CSXD; QCVN 07:2010/BXD; - Tiêu chuẩn, Quy chẩn QCVN 05:2009/BTNMT, QCVN 06:2009/BTNMT, QCVN 14: 2008/BTNMT; QCVN 09:2008/BTNMT; QCVN 08 :2008/BTNMT, QCVN 40:2011/BTNMT; 1. Tổng quan về môi hình SWMM Mô hình SWMM (Storm Water Management Model) được xây dựng ở hai trường đại học San Phansico và Florida (Mỹ) do cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) xây dựng từ năm 1971-1999 để mô phỏng chất và lượng nước của lưu vực thoát nước đô thị và tính toán quá trình chảy tràn từ mỗi lưu vực bộ phận đến cửa nhận nước của nó. n 5 Mô hình quản lý nước mưa SWMM là một mô hình toán học toàn diện, dùng để mô phỏng khối lượng và tính chất dòng chảy đô thị do mưa và hệ thống cống thoát nước thải chung. Mọi vấn đề về thuỷ văn đô thị và chu kỳ chất lượng đều được mô phỏng, bao gồm dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm, vận chuyển qua mạng lưới hệ thống tiêu thoát nước, hồ chứa và khu xử lý.
Mô hình SWMM mô phỏng các dạng mưa thực tế trên cơ sở lượng mưa (biểu đồ quá trình mưa hàng năm) và các số liệu khí tượng đầu vào khác cùng với hệ thống mô tả (lưu vực, vận chuyển, hồ chứa/xử lý) để dự đoán các trị số chất lượng và khối lượng dòng chảy. Truyền tải chảy mặt (Khối Transport) Trữ / Xử lý Trữ / Xử lý (Khối (Khối Storage/Treatment) Storage/Treatment) Nhận nước (Khối Receiving) Hình 1. Các khối xử lý chính của mô hình SWMM Các khối xử lý chính của mô hình SWMM bao gồm: - Khối “dòng chảy” (Runoff block) tính toán dòng chảy mặt và ngầm dựa trên biểu đồ quá trình mưa (và/hoặc tuyết tan) hàng năm, điều kiện ban đầu về sử dụng đất và địa hình. n 6 - Khối “truyền tải” (Transport block) tính toán truyền tải vật chất trong hệ thống nước thải.
- Khối “chảy trong hệ thống” (Extran block) diễn toán thủy lực dòng chảy phức tạp trong cống, kênh… - Khối “Trữ/xử lý“ (Strorage/Treatment block) biểu thị các công trình tích nước như ao, hồ điều hòa…và các công trình xử lý nước thải, đồng thời mô tả ảnh hưởng của các thiết bị điều khiển dựa trên lưu lượng và chất lượng- các ước toán chi phí cơ bản cũng được thực hiện. - Khối “nhận nước” (Receiving block): Môi trường tiếp nhận. HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ 1. Tình hình nghiên cứu về hệ thống thoát nước đô thị trên thế giới Vấn đề chất thải sinh hoạt được mọi người quan tâm từ khá sớm.
Thời trung cổ, đô thị ngập chìm trong rác thải. Tại những thành phố được tổ chức tốt, chính quyền thành lập đơn vị chuyên trách làm vệ sinh công cộng. Trường hợp Florenxia (Italia) đầu thế kỉ XIV là thí dụ điển hình - thành phố có hai đội chuyên trách - một chuyên quyết dọn đường phố và một chuyên thau vét hệ thống cống thoát nước [4], từ giữa thế kỉ XIX bộ phận giàu có của xã hội Anh ngày càng quan tâm đến vấn đề vệ sinh trong cuộc sống thường nhật, kiểu bệ xí dội nước đầu tiên ra đời năm 1596 và trở thành đồ vật tự hào dân tộc của người Anh trong thế kỉ này. Về sự phát triển của hệ thống thoát nước và xử lý nước thải [17], thông thường thoát nước và hệ thống xử lý nước thải phát triển qua nhiều thế kỷ để ứng phó với những vấn đề về sự thay đổi.
Ban đầu các kênh mở (hệ thống thoát nước) đã được sử dụng để vận chuyển dòng chảy do mưa đi càng nhanh càng tốt từ các trung tâm dân cư của thành phố và ngăn chặn lũ lụt tại địa phương. Khi hệ thống ống nước trong nhà đã trở thành phổ biến, hệ thống thoát nước được sử dụng để thoát nước thải khá tốt. Tuy nhiên, qua thời gian, các kênh mở trở nên ô nhiễm và là nguyên nhân gây những vấn đề khó chịu về mùi. Điều này dẫn đến việc sử dụng các cống đóng (kết hợp các hệ thống thoát nước) xả vào sông suối, nguồn nước gần nhất.
Với sự đô thị hóa ngày càng tăng và mối liên quan trực tiếp của nó tới việc gia tăng n 7 lượng chất thải con người thải ra môi trường, nguồn nước và sông suối các địa phương trở nên ô nhiễm nặng nề. Do sự quan tâm về chất lượng nước và y tế công cộng, ban đầu thành phố xây dựng cống chặn để vận chuyển nước thải xuôi dòng theo hướng dốc ra xa khu vực phát triển. Khi các con sông chính lần lượt bị ô nhiễm, xử lý nước thải bắt đầu được thực hiện với nước thải của các trang trại. Sự thêm vào giai đoạn xử lý này đã mở ra hướng giải quyết cần thiết cho việc làm giảm sự gia tăng ô nhiễm để phục hồi “năng lượng sinh thái” của các con sông.
Nhật Bản là một nước công nghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới, ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX nền công nghiệp của đất nước này đã phát triển nhanh chóng và ngay từ đó họ đã xây dựng các hệ thống cống thu gom và các trạm xử lý nước thải, và các kênh thoát nước, tuy còn thô sơ do điều kiện khoa học công nghệ lúc bấy giờ nhưng cũng đã góp phần bảo vệ môi trường sống. Điều này thể hiện cái nhìn rất sớm và tiến bộ về vấn đề bảo vệ môi trường sống và phát triển bền vững của Nhật Bản. Hộ gia đình, công sở, nhà máy … Mạng lưới đường Hồ chứa, bể cống chung thoát chứa ngầm, nước thải trạm bơm… Nước mưa, nước tưới cây… Xả ra nguồn nước công cộng theo tiêu chuẩn vệ sinh Trạm xử lý nước thải và xử lý bùn thải. Sơ đồ hệ thống thoát nước tại hầu hết các thành phố và đô thị của Nhật Bản [9] Việc lập quy hoạch hệ thống thoát nước đô thị tại các thành phố của Nhật Bản cũng được quan tâm từ rất sớm.
Đồ án “Quy hoạch thoát nước thành phố Tokyo” được thiết kế và thông báo cho người dân biết từ những năm 1908, dự án “Nghiên cứu tổng thể về xử lý nước thải có xử lý bùn thải ” được lập cho TP Osaka năm 1925… Nhờ đó cho đến nay trên toàn nước Nhật, tỷ lệ người dân được sử dụng hệ n 8 thống thoát nước đạt trên 65% và tỷ lệ diện tích có hệ thống thoát nước cũng đạt trên 60%, tại những thành phố lớn như Tokyo, Osaka, Yokohama, Nagoya, Fukoka… có tỷ lệ người dân được sử dụng hệ thống thoát nước đạt tới 99% [9]. Công trình thoát nước tại Nhật Bản được xây dựng từ rất lâu đời. Đầu tiên phải kể đến hệ thống mương thoát nước tại TP Osaka có tên Sewari - Gesui được xây dựng từ năm 1583, đường cống ngầm có tên Kanda tại TP Tokyo được xây dựng từ năm 1884 vẫn còn được sử dụng đến ngày nay…là một trong những đường cống thu gom thoát nước lâu đời nhất tại đất nước này. Có thế nói vấn đề thoát nước đô thị được quan tâm đầu tư, thiết kế xây dựng từ rất sớm tại các nước trên thế giới.
Nói chung việc thoát nước và xử lý nước thải cũng trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau.