Chương 1. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA CÁC LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHỰA 1. Tổng quan về quá trình phát triển, công nghệ tái chế nhựa và các chất thải đặc trưng của làng nghề 1. Quá trình phát triển của làng nghề và các đặc trưng sản xuất Trong những năm gần đây, do nhu cầu của thị trường, nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, đã hình thành nhiều làng nghề mới không phải là làng nghề truyền thống.
Các làng nghề được hình thành chủ yếu xuất phát từ việc tổ chức gia công cho các xí nghiệp lớn, các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu, việc học tập kinh nghiệm của vài hộ gia đình nhạy bén thị trường và có điều kiện đầu tư sản xuất hoặc của các làng nghê lân cận. Một số làng nghề tự hình thành so nhu cầu mới của thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường nguyên liệu sẵn có. Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, địa điểm tự nhiên, mật độ dân cư, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sự phân bố và phát triển giữa các vùng của nước ta là không đồng đều đặc biệt là các làng nghề mới, thường tập trung vào những khu vực nông thôn đông dân cư, nhưng ít đất sản xuất nông nghiệp, lao động dư thừ lúc nông nhàn. Trên cả nước, các làng nghề mới, chủ yếu là tái chế phế liệu tập trung phần lớn tại khu vực đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%), còn lại ở miền Trung (30%), miền Nam (10%), mặc dù số lượng ít nhưng tốc độ phát triển nhanh chóng về quy mô và loại hình tái chế, công nghệ sản xuất đang từng bước được cơ giới hóa.
Với tốc độ phát triển nhanh chóng, các vấn đề về hiện trạng ô nhiễm môi trường hiên tại và trong tương lai, tác động của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe người lao động, thực trạng và những tồn tại trong quản lý môi trường làng nghề, các giải pháp tổng hợp nhằm cải thiện môi trường làng nghề đang là những vấn đề vô cùng cấp thiết, cần giải quyết để hướng tới phát triển làng nghề bền vững, GVHD: PGS. Nguyễn Thị Quỳnh Hương HVTH: Nguyễn Thị Tuyến 11 Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ kỹ thuật thân thiện với môi trường. Trước thập kỷ 80 của thế kỷ 20, các làng nghề tái chế nhựa là những vùng quê sản xuất nông nghiệp thuần túy. Công việc làm thêm của những người nông dân trong thời kỳ nông nhàn mới chỉ dừng lại ở mức độ thu gom nhựa phế liệu để bán cho các cơ sở sản xuất và tái chế đồ nhựa của nhà nước.
Cuối những năm 80 và đầu những năm 90, khi nền kinh tế chuyển từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường thì nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh cá thể ra đời và phát triển mạnh mẽ. Sự mở cửa của nền kinh tế đã mở ra cho những người nông dân hướng phát triển kinh tế mới. Họ đã mạnh dạn mở những xưởng sản xuất tái chế ngay trên chính quê hương mình. Trong những năm 90, hàng loạt các hộ gia đình đứng ra mở các cơ sở thu gom và tái chế nhựa phế liệu với quy mô nhỏ, nhiều làng nghề tái chế được hình thành trên khắp cả nước.
Thu nhập của người nông dân ngày càng được cải thiện nhờ vào việc thu mua và sản xuất tái chế nhựa. Sản phẩm cung cấp cho xã hội ngày càng nhiều, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của vùng, giải quyết nhu cầu lao động cho xã hội. Làng nghề tái chế nhựa chủ yếu là những làng nghề mới hình thành, số lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô. Nguyên liệu đầu vào chủ yếu là những loại đồ nhựa đã qua sử dụng có nguồn gốc và thành phần phức tạp.
Hầu hết các làng nghề tái chế nhựa đều có những đặc điểm chung, đó là lực lượng lao động của làng nghề chủ yếu là người dân sống trong làng, một số làng nghề do đất phục vụ cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp để phục vụ cho sản xuất cong nghiệp mà hầu hết các hộ gia đình bỏ đất nông nghiệp chuyển hẳn sang thu mua và tái chế nhựa. Có thể thấy làng nghề đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động, đồng thời tăng ngân sách góp phần cải tạo cơ sở hạ tầng nông thôn. Khả năng tiếp cận thông tin, điện, nước sạch và những yếu tố khác về cơ sở vật chất được đáp ứng đầy đủ hơn, nâng cao chất lượng GVHD: PGS. Nguyễn Thị Quỳnh Hương HVTH: Nguyễn Thị Tuyến 12 Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ kỹ thuật cuộc sống cho người dân cung như góp phần hỗ trợ sản xuất.
Bên cạnh việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn, tăng ngân sách nhà nước, tạo ra sản phẩm cho xã hội. thì sự phát triển hoạt động sản xuất tại các làng nghề cũng mang lại nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề môi trường và xã hội. Những tồn tại từ nhiều năm qua trong quá trình phát triển của làng nghề có thể coi là những thách thức làm cho chất lượng môi trường tại các làng nghề ngày càng suy giảm, ảnh hưởng không chỉ tới sự phát triển bền vững ở làng nghề, mà của cả nền kinh tế của đất nước. Hầu hết các làng nghề đều có chung những đặc điểm sản xuất, đó là: Quy mô sản xuất nhỏ, phần lớn là quy mô gia đình, khó phát triển vì mặt bằng chật hẹp, xen kẽ khu dân cư sinh hoạt.
Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ô nhiễm tới khu dân cư càng lớn dẫn đến chất lượng môi trường khu vực ngày càng xấu đi. Nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhỏ có nguồn gốc nông thôn đã ảnh hưởng mạnh tới sản xuất tại làng nghề, làm tăng mức độ ô nhiễm của môi trường. Không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm, chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt, các cơ sở sản xuất tại làng nghề thường lựa chọn quy trình sản xuất thô sơ, tận dụng nhiều sức lao động, trình độ thấp. Hơn thế, nhiều cơ sở sản xuất còn sử dụng các nhiên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại để nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, thiếu đầu tư phương tiện, dụng cụ bảo hộ lao động.
Điều kiện lao đông thấp cộng thêm ý thức tự bảo vệ sức khỏe của người lao động hạn chế đã làm tăng mức độ ô nhiễm tại đây. Làng nghể sử dụng nguồn lao động là những người trong gia đình ở mọi lứa tuổi, do đó ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ảnh hưởng xấu tới mọi lứa tuổi và giới tính đặc biệt đối với sự phát triển của trẻ em. Công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ lạc hậu, chắp vá, kiến thức tay nghề không toàn diện dẫn tới tiêu hao nhiều nguyên nhiên liệu, làm tăng GVHD: PGS. Nguyễn Thị Quỳnh Hương HVTH: Nguyễn Thị Tuyến 13 Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ kỹ thuật phát thải nhiều chất ô nhiễm trong môi trường đất, nước, không khí, đồng thời làm ảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm.
Trình độ kỹ thuật của các làng nghề chủ yếu là thủ công, bán cơ khí hoàn toàn chưa có làng nghề nào có áp dụng tự động hóa. Vốn đầu tư tại các cơ sở làng nghề thấp, khó có điều kiện phát triển hoặc đổi mới công nghệ, thiết bị để đưa ra các sản phẩn theo hướng thân thiện với môi trường. Vì đây là quá trình phát triển tự phát nên không có kế hoạch lâu dài, khó huy động tài chính và vốn đầu tư lớn từ các nguồn khác (quỹ tín dung, ngân hàng.) nên khó chủ động trong đổi mới kỹ thuật và sản phẩm, lại càng không muốn và không thể đầu tư cho xử lý môi trường. Đầu ra của sản phẩm phụ thuộc nhiều vào nhu cầu của thị trường.
Trình độ người lao động, chủ yếu là lao động thủ công, văn hóa thấp, học nghề theo kinh nghiệm nên ảnh hưởng tới nhận thức đối với công tác bảo vệ môi trường, hạn chế năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Theo điều tra của Bộ NN&PTNT thì chất lượng lao động và trình độ chuyên môn kỹ thuật ở các làng nghề nhìn chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, số lao động chỉ tốt nghiệp cấp I, II chiếm trên 60%. Mặt khác, đa số người lao động có nguồn gốc nông dân nên chưa có ý thức về môi trường lao động, chỉ cần việc làm có thu nhập cao hơn thu nhập từ nông nghiệp hoặc bổ sung thu nhập trong lúc nông nhàn, nên ngại học hỏi, không quan tâm tới bảo vệ môi trường. Nhiều làng nghề chưa quan tâm đến xây dựng cơ sở hạ tầng.
Nguyên nhân là do sự cạnh tranh đã thúc đẩy các chủ xưởng sản xuất đầu tư đổi mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhưng không phải là đầu tư cho kỹ thuật bảo vệ môi trường cho nên, hầu hết các cơ sở sản xuất đều không có hệ thống xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn hợp vệ sinh, không chú ý đến đầu tư phương tiện thu gom quản lý chất thải nguy hại. Đây là thách thức lớn vì để khắc phục điều này đòi hỏi nhiều kinh phí và thời gian. Nguyễn Thị Quỳnh Hương HVTH: Nguyễn Thị Tuyến 14 Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ kỹ thuật 1. Công nghệ tái chế nhựa của các làng nghề và hiện trạng sản xuất của làng nghề Sơ đồ dây chuyền công nghệ tái chế nhựa tại các làng nghề được mô tả Thu gom nhựa Phân loại Bụi Làm sạch sơ bộ Cát, bụi, nhãn mác Điện năng Xay, nghiền Bụi, ồn Nước Rửa, giặt Nước thải, bùn, cát NL mặt trời Phơi khô Bụi Gia nhiệt Tạo hạt Nước thải, bụi Hơi dung môi hữu cơ Gia nhiệt Bột màu, bụi Đùn, ép, thôi Hơi dung môi hữu cơ Hoàn thiện Ba via, SP hỏng, vỡ Sản phẩm (các loai) Hình 1 – 1 Sơ đồ dây chuyền công nghệ tái chế nhựa GVHD: PGS.
Nguyễn Thị Quỳnh Hương HVTH: Nguyễn Thị Tuyến 15 Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ kỹ thuật Nhìn chung ở Việt Nam, số lượng các làng nghề tái chế nhựa không nhiều do một số công ty, nhà máy, xí nghiệp cũng tham gia vào việc tái chế nhựa. Loại hình làng nghề này tập trung chủ yếu ở Miền Bắc như làng nghề tái chế nhựa Minh Khai (Như Quỳnh – Văn Lâm – Hưng yên), Phú Xuyên (Hà Tây), Trung văn (Vĩnh Phúc), Phan Bôi (Hòa Bình) .