ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là yếu tố quan trọng nhất của sinh quyển, có ý nghĩa vô cùng lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội, sinh thái và môi trƣờng. Việc hình thành các kiểu rừng có liên quan chặt chẽ giữa sự hình thành các thảm thực vật tự nhiên với vùng địa lý và điều kiện khí hậu [25]. Việt Nam là một nƣớc có địa hình phức tạp, nằm trong vành đai nóng, giàu nhiệt và ẩm, chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa. Đặc điểm này đã ảnh hƣởng đến tất cả các thành phần của tự nhiên, nhất là lớp thực bì.
Vì vậy, tài nguyên thực vật rừng Việt Nam rất giàu về số lƣợng và phong phú về chủng loại. Ngoài trên 1000 loài cây gỗ lớn và nhỏ, Tre (gọi chung cho tất cả các loài thuộc họ Phụ tre – Bambusoideae) là lâm sản đứng sau gỗ và có thể thay thế cho gỗ trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong tình trạng cây gỗ của rừng nƣớc ta ngày càng cạn kiệt [11]. Tài nguyên rừng của Việt Nam đƣợc đánh giá là rất dồi dào. Ngoài các lâm sản là các loài thực vật thân gỗ vẫn luôn nhận đƣợc nhiều sự quan tâm nhất, thì các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao hiện cũng rất đƣợc con ngƣời chú ý.
Lâm sản ngoài gỗ là các nguyên liệu thô có nguồn gốc từ sinh vật không phải là gỗ, đƣợc thu hoạch từ rừng cho mục đích của con ngƣời. Chúng có thể bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa béo, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc sản phẩm của chúng), gỗ nhiên liệu và các nguyên liệu thô khác nhƣ tre nứa, song mây và thực vật gỗ nhỏ hoặc gỗ sợi [22]. Chúng có giá trị nhiều mặt, góp phần khá lớn vào phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo ở các địa phƣơng có rừng và đất rừng. Lâm sản ngoài gỗ có vai trò hết sức quan trọng trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và là nhân tố tác động tới sinh kế của ngƣời dân địa phƣơng.
Trong các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao ở nƣớc ta hiện nay thì tre trúc có thể đƣợc xem nhƣ chiếm vị trí quan trọng nhất. Theo thống kê của Ban chỉ đạo kiểm kê rừng Trung ƣơng năm 1999 [1], tổng diện tích rừng tre của Việt Nam là 1.068 ha, bằng 4,53% diện tích toàn quốc, với tổng trữ lƣợng là 8.552 ha rừng tre tự nhiên (cả rừng tre 1 thuần loài và hỗn giao với gỗ), với trữ lƣợng 8.516 ha rừng tre trồng với trữ lƣợng 96. Ngoài rừng tre trúc mọc tự nhiên tập trung, còn có hàng trăm triệu cây tre đƣợc trồng rải rác quanh các làng bản, trong các gia đình ở các vùng đồng bằng trung du và miền núi cũng tạo nên trữ lƣợng đáng kể. Các loài tre trúc đều là những cây đa tác dụng, hầu hết các bộ phận của chúng đều đƣợc con ngƣời tận dụng một cách triệt để nhƣ: Thân dùng để làm nhà, đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ, măng dùng làm thực phẩm đƣợc nhiều ngƣời ƣa chuộng, lá dùng cho chăn nuôi.Một tác dụng không thể không nhắc đến của các loài tre trúc đó là tác dụng phòng hộ [12].
Với lợi thế của một nƣớc có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mƣa nhiều đã tạo điều kiện cho sự sinh trƣởng mạnh mẽ của thảm thực vật rừng nói chung và của các loài tre trúc nói riêng. Từ đó góp phần không nhỏ cho công tác phòng hộ ở nƣớc ta. Tuy nhiên, việc sử dụng rừng tại nƣớc ta chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên có sẵn, ít quan tâm đến bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Điều này dẫn đến nguồn tài nguyên rừng ở khu vực ngày càng cạn kiệt, tất yếu sẽ làm suy giảm tính đa dạng sinh học của rừng và ảnh hƣởng tiêu cực đến cuộc sống của ngƣời dân sống dựa vào rừng [27].
Một trong số các loài tre trúc đa tác dụng và có giá trị cao đó là loài Vầu đắng (Indosasa angustata Mc.Clure), một loài tre trúc nằm trong phân họ Tre (Bambusoideae) thuộc họ Hòa Thảo (Poacae Barnh). Đây là một loài cây bản địa có thân ngầm mọc tản, phân bố tự nhiên ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc nƣớc ta [18]. Một trong số những tỉnh có vầu đắng phân bố nhiều nhất phải kể đến đó là tỉnh Bắc Kạn. Tại khu vực xã Yên Nhuận - Chợ Đồn -Bắc Kạn có rất nhiều vầu đắng mọc tự nhiên.
Ngƣời dân nơi đây có lịch sử khai thác và sử dụng vầu đắng lâu đời, xong đến nay tại địa phƣơng chƣa có đề tài nghiên cứu nào về kỹ thuật khai thác, sử dụng cũng nhƣ tình hình thị trƣờng tiêu thụ các sản phẩm của loài. Xuất phát từ thực tế này, tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng và thị trƣờng tiêu thụ loài Vầu 2 đắng (Indosasa angustata Mc.Clure) tại xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn" Với mong muốn thu thập đƣợc những thông tin làm cơ sở xác định nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp sử dụng cũng nhƣ phát triển bền vững tài nguyên vầu đắng tại địa phƣơng. 3 PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á trong đó có Việt Nam. Tre trúc dễ trồng, sinh trƣởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên đƣợc sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau.
Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi [19]. Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo, vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,. Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị.
Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trƣờng quốc tế và đƣợc nhiều nƣớc châu Âu, châu Mỹ ƣa chuộng. Chính vì vị trí quan trọng của tài nguyên tre trúc, nhiều nƣớc trên thế giới có tre trúc và kể cả những nƣớc sử dụng tre trúc đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tre trúc [4].Quá trình nghiên cứu các loài tre trúc trên thế giới Trên thế giới họ phụ Tre Trúc có khoảng 1200 loài, 70 chi, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới và một số ít loài phân bố ở vùng ôn đới và hàn đới. Theo Zho Fangchun (1998), tre trúc thế giới có thể chia làm ba vùng, đó là vùng tre trúc Châu Á - Thái Bình Dƣơng, vùng tre trúc Châu Mỹ và vùng tre trúc Châu Phi [8]. Có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh đƣợc vai trò quan trọng của loại tài nguyên lâm sản ngoài gỗ này đối với cuộc sống con ngƣời.
Công trình "Nghiên cứu về tre trúc" của Munro (1868) đƣợc coi là một trong những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005). Trong công trình nghiên cứu tác giả đã khái quát đƣợc một cách tổng quan về họ phụ tre trúc trên thế giới [12]. 4 Tiếp theo là công trình nghiên cứu "Các loài Bambusaceae ở Ấn Độ" của tác giả Gamble (1896). Công trình nghiên cứu đã cho biết 151 loài tre trúc ở Ấn Độ, Myanmar, Indonesia, Malaysia và đã xuất bản thành công công trình "Những bài học nhỏ về sinh lý tre nứa ở Ấn Độ".
Trong những tài liệu nghiên cứu sâu và cung cấp nhiều thông tin về tre nứa phải kể đến công trình "Rừng tre nứa" của I.Dig đã đƣợc FAO xuất bản năm 1959. Trong tài liệu này, tác giả đã tổng kết và đề cập đến các nhu cầu sinh thái, đặc tính sinh vật học của tre nứa nói chung. Ở Châu Á, các nƣớc nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản là những nƣớc có nhiều công trình nghiên cứu về đối tƣợng này [12]. Theo Fu Maoyi, Xiao Jianghua (1996) với “Cultivation & Utilization on Bamboos” đã xác định những nhân tố ảnh hƣởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trƣởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dƣỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh.
Đây là những nhân tố cần phải đƣợc quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh [23]. Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001) trong công trình “Cultivation and Integrated Utilization on Bamboo in China” bằng các thí nghiệm với loài Dendrocalamus latiflorus và Dendrocalamus oldhamii cho thấy phân bón làm tăng nhiệt độ trong đất giúp không khí và nƣớc lƣu thông tốt hơn, kích thích măng ra sớm hơn, sản lƣợng măng và thân khí sinh tăng cao hơn [21]. Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Tewari (2001) đã nghiên cứu về phân bố và cách nhận biết các loài tre trúc, tác giả đã chỉ ra đƣợc giá trị sử dụng hiện tại, chiến lƣợc và dự kiến các chƣơng trình nghiên cứu, đƣa ra đánh giá tài nguyên tre trúc cho từng nƣớc về số lƣợng loài và tiềm năng phát triển [24]. Một trong những trung tâm nghiên cứu về tre trúc điển hình trên thế giới là trƣờng đại học Kyoto Nhật Bản.
các mẫu đƣa vào nghiên cứu ở đây đƣợc thu thập từ khắp nơi trên lãnh thổ Nhật Bản. Nội dung nghiên cứu chủ yếu là đặc điểm sinh thái, sinh lý và cách thức nhân giống của các loài tre trúc. Ngoài ra trung tâm còn có những công trình nghiên cứu vƣợt qua lãnh thổ quốc gia, điển 5 hình là tiến sĩ Koichiro, ông đã nghiên cứu các đặc điểm sinh lý, sinh thái các loài tre trúc ở Ấn Độ và các vùng lân cận [6]. Hiện nay, các loài tre trúc ngày càng đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm.
Ở một số quốc gia, các loài tre trúc đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng, góp phần làm tăng trƣởng GDP của cả nƣớc [12].Quá trình nghiên cứu các loài tre trúc ở Việt Nam Ở Việt Nam, quá trình nghiên cứu các loài tre trúc có phần muộn hơn so với thế giới.