Đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng và thị trường loài vầu đắng indosasa angustata mc clure tại xã yên nhuận huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn

Phân tích hiện trạng khai thác, sử dụng và thị trường loài vầu đắng (Indosasa angustata Mc Clure) tại xã Yên Nhuận, Chợ Đồn, Bắc Kạn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2017

96
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.3.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu

2.3.3. Phương pháp nội nghiệp

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.2. Vị trí địa lý

3.3. Điều kiện kinh tế - xã hội

3.4. Tình hình sản xuất Nông – Lâm nghiệp

3.5. Lĩnh vực văn hóa – xã hội

3.6. Công tác xây dựng

3.7. Công tác an ninh chính trị - Trật tự an toàn xã hội

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tình hình khai thác loài Vầu đắng tại địa điểm nghiên cứu

4.1.1. Thống kê mật độ trên các trạng thái rừng

4.1.2. Cấu trúc tuổi của Vầu đắng trên các trạng thái rừng

4.1.3. Một số chỉ tiêu bình quân trên các trạng thái rừng Vầu đắng

4.1.4. Kết quả điều tra cây tiêu chuẩn

4.2. Tình hình khai thác Vầu đắng ở địa phương

4.3. Tình hình sử dụng các sản phẩm Vầu đắng ở địa phương

4.4. Thị trường tiêu thụ các sản phẩm Vầu đắng

4.4.1. Sự phân công lao động trong tiêu thụ các sản phẩm Vầu đắng

4.5. Vai trò của Vầu đắng đối với đời sống kinh tế hộ

4.6. Đề xuất giải pháp nhằm phát triển nguồn tài nguyên tre nứa nói chung và Vầu đắng nói riêng tại đại phương

4.6.1. Vai trò của các tổ chức trong việc phát triển Vầu đắng

4.6.2. Một số giải pháp nhằm phát triển nguồn tài nguyên tre nứa nói chung và Vầu đắng nói riêng tại địa phương

KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Vầu đắng Indosasa angustata Tổng quan tiềm năng tại Bắc Kạn

Loài vầu đắng (Indosasa angustata Mc.Clure) là một trong những lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao, phân bố tự nhiên tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, đặc biệt là tại tỉnh Bắc Kạn. Đây là loài cây bản địa có thân ngầm mọc tản, sinh trưởng nhanh và mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Tại xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, cây vầu đắng không chỉ là một phần quan trọng của hệ sinh thái rừng mà còn gắn liền với sinh kế người dân địa phương qua nhiều thế hệ. Các sản phẩm từ cây vầu đắng rất đa dạng, từ măng làm thực phẩm, thân cây (thân khí sinh) dùng trong xây dựng, làm đồ gia dụng, hàng rào, cho đến nguyên liệu sản xuất giấy. Mặc dù có tiềm năng lớn, việc khai thác và phát triển loài cây này vẫn còn mang tính tự phát, chưa tương xứng với giá trị thực tế. Nghiên cứu tại xã Yên Nhuận cho thấy, việc đánh giá đúng hiện trạng tài nguyên và thị trường sẽ là cơ sở khoa học quan trọng để đề xuất các giải pháp phát triển bền vững. Mục tiêu là không chỉ nâng cao thu nhập từ cây vầu cho người dân mà còn góp phần vào việc quản lý, bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này, phù hợp với các chính sách phát triển lâm nghiệp của địa phương và quốc gia. Việc hiểu rõ các đặc điểm sinh thái, tình hình phân bố và giá trị sử dụng sẽ mở ra hướng đi mới cho việc xây dựng một chuỗi giá trị ngành hàng vầu hoàn chỉnh và hiệu quả.

1.1. Giới thiệu giá trị kinh tế cây vầu đắng và vai trò

Giá trị kinh tế cây vầu đắng thể hiện ở tính đa dụng của nó. Thân cây được sử dụng rộng rãi để làm nhà cửa, cột kèo, hàng rào, chuồng trại và các vật dụng gia đình như đũa. Đặc biệt, sản phẩm măng vầu đắng Bắc Kạn là một loại thực phẩm được ưa chuộng, mang lại nguồn thu nhập thời vụ quan trọng cho các hộ gia đình. Ngoài ra, thân vầu còn là nguyên liệu tiềm năng cho ngành công nghiệp giấy. Trong bối cảnh tài nguyên gỗ ngày càng cạn kiệt, vầu đắng nổi lên như một vật liệu thay thế bền vững. Về mặt sinh thái, vầu đắng có tác dụng phòng hộ, chống xói mòn đất hiệu quả nhờ bộ rễ chằng chịt, góp phần bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

1.2. Điều kiện tự nhiên xã Yên Nhuận Lợi thế phát triển

Xã Yên Nhuận có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của cây vầu đắng. Với địa hình chủ yếu là đồi núi thấp và trung bình, đất lâm nghiệp chiếm tới 91,36% diện tích. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1700mm và độ ẩm cao (80-85%) tạo môi trường lý tưởng cho vầu sinh trưởng. Mạng lưới sông suối phong phú cũng đảm bảo nguồn nước tưới tiêu và duy trì độ ẩm cần thiết. Những yếu tố này không chỉ giúp cây vầu mọc tự nhiên với mật độ cao mà còn mở ra tiềm năng trồng và thâm canh, phát triển các mô hình nông lâm kết hợp, tận dụng tối đa lợi thế từ rừng.

II. Thực trạng khai thác vầu đắng và thách thức phát triển bền vững

Hiện trạng tài nguyên vầu tại xã Yên Nhuận đang đối mặt với nhiều thách thức do hoạt động khai thác chưa được quản lý chặt chẽ. Kết quả khảo sát cho thấy sự chênh lệch lớn về mật độ giữa các trạng thái rừng: rừng vầu thuần loài có mật độ cao nhất (6900 cây/ha) trong khi rừng gỗ xen vầu chỉ đạt 1952 cây/ha. Nguyên nhân chính là do cường độ khai thác quá mức ở những khu vực rừng trồng xen kẽ, không đảm bảo khả năng tái sinh tự nhiên. Về cấu trúc tuổi, rừng vầu tập trung chủ yếu ở cây tuổi 2, trong khi cây tuổi 5 (đã già, có thể khai thác làm củi) chiếm tỷ lệ rất thấp. Điều này cho thấy hoạt động khai thác đang diễn ra không đồng đều, có xu hướng khai thác cả những cây non, ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc lâm phần và sự phát triển lâu dài. Bên cạnh đó, kỹ thuật khai thác vầu của người dân còn thô sơ, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm truyền thống. Việc chặt hạ không đúng kỹ thuật không chỉ làm giảm giá trị sản phẩm mà còn gây hại cho thân ngầm, ảnh hưởng đến khả năng ra măng trong các mùa vụ tiếp theo. Nếu tình trạng này tiếp diễn, nguy cơ suy giảm trữ lượng và chất lượng rừng vầu là rất lớn, đe dọa trực tiếp đến nguồn sinh kế người dân địa phương và mục tiêu phát triển bền vững cây vầu.

2.1. Phân bố mật độ và trữ lượng rừng vầu tại Yên Nhuận

Nghiên cứu chỉ ra rằng mật độ và trữ lượng vầu đắng phân bố không đồng đều. Trạng thái rừng vầu thuần loài có trữ lượng thân khí sinh cao nhất (317,31 tấn/ha), trong khi trạng thái rừng gỗ xen vầu có trữ lượng thấp nhất (88,07 tấn/ha). Sự khác biệt này phản ánh mức độ tác động của con người. Rừng vầu thuần loài ít bị khai thác thân cây hơn nên có khả năng tái sinh và tích lũy sinh khối tốt. Ngược lại, ở các khu vực rừng trồng, vầu thường bị chặt hạ để ưu tiên cho cây gỗ, dẫn đến trữ lượng thấp. Dữ liệu này cho thấy tiềm năng cung cấp nguyên liệu rất lớn từ các khu rừng thuần loài, nhưng cũng cảnh báo về sự suy thoái ở các khu vực khác.

2.2. Đánh giá cấu trúc tuổi và chất lượng cây vầu đắng

Đặc điểm sinh thái cây vầu đắng và cấu trúc tuổi là chỉ số quan trọng về sức khỏe của rừng. Tại Yên Nhuận, cây tuổi 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 24-30% tùy trạng thái), trong khi cây tuổi 5 rất thấp. Điều này cho thấy rừng đang trong giai đoạn trẻ hóa nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro nếu khai thác không chọn lọc. Các cây có đường kính lớn (cấp 1, D₀₀ ≥ 10cm) chiếm tỷ lệ rất thấp ở rừng vầu thuần loài (2,22%) nhưng lại cao ở rừng vầu xen gỗ (31,11%). Điều này phản ánh thực tế rằng rừng thuần loài có mật độ dày, cây cạnh tranh dinh dưỡng nên đường kính nhỏ hơn, trong khi rừng xen kẽ có không gian phát triển tốt hơn cho những cây còn lại.

III. Phương pháp sử dụng các sản phẩm từ cây vầu đắng ở Chợ Đồn

Tại xã Yên Nhuận, các sản phẩm từ cây vầu đắng được người dân tận dụng triệt để vào nhiều mục đích khác nhau, phản ánh vai trò quan trọng của loài cây này trong đời sống hàng ngày. Sản phẩm chủ lực và mang lại giá trị thương mại cao nhất là măng vầu đắng Bắc Kạn. Hầu hết măng thu hoạch được người dân bán ở dạng tươi hoặc luộc sơ, chỉ một phần nhỏ được giữ lại làm thực phẩm cho gia đình. Thân khí sinh sau khi khai thác được sử dụng phổ biến trong xây dựng nhà cửa (làm cột, kèo, sàn), làm hàng rào, chuồng trại chăn nuôi và làm chất đốt. Một ứng dụng đặc trưng là làm đũa ăn, phục vụ nhu cầu tại chỗ. Mặc dù có nghề đan lát truyền thống, việc sử dụng thân vầu tuổi 1 để làm các vật dụng gia đình ngày càng ít đi do sự thay thế của các sản phẩm nhựa và inox. Hoạt động khai thác thân vầu để bán làm nguyên liệu sản xuất giấy có diễn ra nhưng không thường xuyên và không đồng đều giữa các thôn. Nhìn chung, cách thức sử dụng hiện tại phù hợp với nhu cầu của địa phương và chưa gây áp lực quá lớn lên tài nguyên, nhưng vẫn còn nhiều tiềm năng chưa được khai phá, đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến và bảo quản măng vầu để nâng cao giá trị gia tăng.

3.1. Măng vầu đắng Từ thực phẩm địa phương đến hàng hóa

Măng vầu là sản phẩm mang tính thời vụ, được khai thác chủ yếu vào các tháng đầu năm (tháng 1, 2, 3 Âm lịch). Đây là nguồn thu nhập chính từ cây vầu cho đa số hộ dân. Người dân thường bán măng tươi ngay sau khi thu hái cho thương lái thu mua nông sản hoặc bán trực tiếp tại các chợ địa phương. Việc chế biến chỉ dừng lại ở mức luộc sơ để dễ bảo quản và vận chuyển. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển các sản phẩm chế biến sâu như măng khô, măng muối, măng đóng hộp vẫn còn bỏ ngỏ, là cơ hội để gia tăng giá trị kinh tế cây vầu đắng.

3.2. Ứng dụng của thân khí sinh trong xây dựng và đời sống

Thân khí sinh của vầu đắng là vật liệu xây dựng truyền thống và không thể thiếu tại địa phương. Nhờ đặc tính dẻo dai và bền, chúng được dùng làm các bộ phận chịu lực trong nhà sàn, làm hàng rào bao quanh vườn tược. Các cây tuổi 3-4 thường được chọn để khai thác cho mục đích này. Ngoài ra, các bộ phận không đủ tiêu chuẩn sẽ được tận dụng làm củi đun. Việc sử dụng thân vầu trong đời sống không chỉ giúp người dân tiết kiệm chi phí mà còn thể hiện sự gắn kết hài hòa giữa con người và tài nguyên rừng.

IV. Phân tích thị trường tiêu thụ vầu đắng và chuỗi giá trị

Thị trường tiêu thụ măng và các sản phẩm vầu đắng tại Yên Nhuận khá rộng lớn nhưng cấu trúc còn đơn giản, chủ yếu là bán nguyên liệu thô. Chuỗi giá trị ngành hàng vầu hiện nay có hai kênh chính. Kênh 1 (phổ biến với măng) là người dân bán trực tiếp cho người tiêu dùng tại các chợ địa phương. Kênh này giúp người dân thu được lợi nhuận cao hơn nhưng số lượng bán ra hạn chế. Kênh 2 (phổ biến với thân cây và măng số lượng lớn) là bán qua các thương lái thu mua nông sản. Kênh này giúp tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng nhưng người dân thường bị ép giá. Giá bán sản phẩm có sự biến động lớn. Giá măng tươi thay đổi theo thời điểm trong vụ (đầu vụ giá cao, cuối vụ giá thấp) và theo địa điểm bán. Ngược lại, giá thân cây khá ổn định trong suốt mùa vụ. Một số khó khăn lớn nhất trong việc phát triển thị trường là hệ thống giao thông còn yếu kém, gây cản trở cho việc vận chuyển. Thêm vào đó, cơ chế thị trường chưa minh bạch và thiếu thông tin khiến người dân dễ bị động. Việc thiếu các cơ sở chế biến tại chỗ cũng làm giảm khả năng cạnh tranh và giá trị của sản phẩm măng vầu đắng Bắc Kạn.

4.1. Kênh tiêu thụ và vai trò của thương lái thu mua nông sản

Thương lái đóng vai trò trung gian quan trọng trong việc kết nối người sản xuất với thị trường lớn hơn. Họ thu mua măng và thân vầu với số lượng lớn, sau đó phân phối đến các chợ đầu mối hoặc các nhà máy chế biến. Mặc dù giúp giải quyết đầu ra cho sản phẩm, sự phụ thuộc vào thương lái cũng khiến người dân mất đi một phần lợi nhuận và quyền đàm phán về giá. Việc xây dựng các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã sẽ giúp người dân có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong chuỗi giá trị.

4.2. Biến động giá bán và các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường

Giá măng vầu chịu ảnh hưởng mạnh bởi quy luật cung - cầu theo mùa vụ. Đầu vụ, khi sản lượng còn ít, giá có thể cao. Vào giữa vụ, khi măng mọc rộ, giá giảm mạnh và tăng nhẹ trở lại vào cuối vụ. Bên cạnh đó, chất lượng măng (kích thước, độ tươi) và chi phí vận chuyển cũng là các yếu tố quyết định giá. Đối với thân cây, giá bán được phân loại theo cấp đường kính và chiều dài, ít biến động hơn do nhu cầu sử dụng tương đối ổn định quanh năm.

V. Đóng góp của vầu đắng vào sinh kế người dân địa phương Yên Nhuận

Cây vầu đắng đóng một vai trò không thể thiếu trong cơ cấu sinh kế người dân địa phương xã Yên Nhuận, dù mức đóng góp vào tổng thu nhập chưa phải là lớn nhất. Nghiên cứu phân loại các hộ gia đình thành ba nhóm dựa trên mức thu nhập cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Đối với nhóm hộ I (mức sống trung bình), nguồn thu nhập từ cây vầu chiếm 19,51% tổng thu nhập. Con số này ở nhóm hộ II là 16,99% và nhóm hộ III (thu nhập thấp hơn) là 11,71%. Sự chênh lệch này đến từ quy mô và hình thức khai thác. Các hộ nhóm I không chỉ khai thác măng mà còn tham gia vào hoạt động kinh doanh, buôn bán thân cây, trong khi các hộ nhóm III chủ yếu chỉ khai thác măng theo mùa vụ để bán lẻ. Mặc dù chỉ là nguồn thu mang tính thời vụ, tiền bán măng và thân vầu đã giúp giải quyết nhiều chi phí sinh hoạt thiết yếu cho các gia đình, đặc biệt là vào thời điểm giáp hạt. Do đó, việc nâng cao hiệu quả kinh tế từ cây vầu thông qua các giải pháp kỹ thuật và thị trường sẽ có tác động trực tiếp và tích cực đến việc cải thiện đời sống, giảm nghèo tại địa phương, khẳng định vị thế của một loài lâm sản ngoài gỗ quan trọng.

5.1. Phân tích cơ cấu thu nhập từ cây vầu theo nhóm hộ

Số liệu cho thấy tỷ trọng thu nhập từ vầu đắng trong tổng thu nhập hộ gia đình giảm dần từ nhóm hộ có điều kiện kinh tế khá hơn xuống nhóm hộ khó khăn hơn. Điều này chỉ ra rằng các hộ nghèo hơn có thể chưa tiếp cận được hoặc chưa có đủ nguồn lực (lao động, vốn) để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, ví dụ như buôn bán thân cây hay chế biến măng. Họ chủ yếu dựa vào việc thu hái tự nhiên. Đây là một điểm cần lưu ý trong các chính sách phát triển lâm nghiệp nhằm hỗ trợ đúng đối tượng.

5.2. Vầu đắng nguồn thu nhập quan trọng nhưng chưa bền vững

Dù quan trọng, nguồn thu từ vầu đắng vẫn còn bấp bênh và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên cũng như biến động thị trường. Sản lượng măng có thể thay đổi từng năm do thời tiết, trong khi giá cả lại do thương lái quyết định phần lớn. Để nguồn thu nhập này trở nên bền vững, cần có sự đầu tư vào kỹ thuật khai thác vầu, chế biến sau thu hoạch và tổ chức lại sản xuất để người dân có thể chủ động hơn trong việc tiếp cận thị trường tiêu thụ măng và các sản phẩm khác.

VI. Top giải pháp phát triển bền vững cây vầu đắng tại Bắc Kạn

Để khai thác hiệu quả và phát triển bền vững cây vầu tại xã Yên Nhuận nói riêng và tỉnh Bắc Kạn nói chung, cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần tập trung vào việc cải tiến kỹ thuật khai thác vầu. Các cơ quan chức năng cần phối hợp với chính quyền địa phương để tập huấn cho người dân các phương pháp khai thác chọn lọc, đúng độ tuổi, đảm bảo không làm tổn hại đến khả năng tái sinh của rừng. Thứ hai, việc phát triển chuỗi giá trị ngành hàng vầu là yếu tố then chốt. Cần khuyến khích đầu tư vào các cơ sở chế biến và bảo quản măng vầu tại chỗ để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như măng sấy khô, măng muối chua, măng đóng hộp. Điều này không chỉ giúp tăng thu nhập từ cây vầu mà còn giải quyết được vấn đề được mùa mất giá. Thứ ba, chính sách phát triển lâm nghiệp cần có những cơ chế cụ thể để hỗ trợ người dân. Các chính sách này có thể bao gồm hỗ trợ vốn vay ưu đãi để đầu tư vào chế biến, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm măng vầu đắng Bắc Kạn, và kết nối thị trường. Cuối cùng, công tác bảo tồn nguồn gen vầu đắng và phát triển các mô hình nông lâm kết hợp phải được chú trọng để vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.

6.1. Cải tiến kỹ thuật khai thác và quản lý tài nguyên vầu

Cần xây dựng và phổ biến các quy trình khai thác bền vững: xác định cường độ khai thác hợp lý cho từng trạng thái rừng, quy định tuổi và đường kính cây được phép khai thác. Việc áp dụng các biện pháp lâm sinh như phát quang, bón phân có thể giúp tăng năng suất măng và chất lượng thân cây. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của cộng đồng trong việc giám sát, bảo vệ rừng vầu, hạn chế tình trạng khai thác bừa bãi.

6.2. Nâng cao giá trị thông qua chế biến và xây dựng thương hiệu

Thay vì chỉ bán nguyên liệu thô, cần tập trung vào chế biến sâu. Việc thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã chế biến sẽ giúp tạo ra sản phẩm đồng đều về chất lượng và đủ lớn về số lượng để tiếp cận các thị trường khó tính hơn. Xây dựng chỉ dẫn địa lý hoặc thương hiệu tập thể cho sản phẩm "Măng vầu đắng Chợ Đồn, Bắc Kạn" sẽ giúp nâng cao giá trị và uy tín sản phẩm trên thị trường.

6.3. Đề xuất chính sách và bảo tồn nguồn gen vầu đắng quý

Chính quyền cần có chính sách giao đất, giao rừng ổn định, lâu dài để người dân yên tâm đầu tư phát triển. Các chương trình khuyến nông, khuyến lâm cần ưu tiên hỗ trợ cho các mô hình trồng và kinh doanh vầu đắng. Bên cạnh đó, việc khoanh vùng bảo vệ, thu thập và lưu giữ nguồn gen của loài vầu đắng Indosasa angustata là cực kỳ cần thiết để phục vụ công tác chọn giống và phát triển bền vững trong tương lai, đảm bảo không làm mất đi nguồn tài nguyên bản địa quý giá này.

04/10/2025
Đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng và thị trường loài vầu đắng indosasa angustata mc clure tại xã yên nhuận huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là yếu tố quan trọng nhất của sinh quyển, có ý nghĩa vô cùng lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội, sinh thái và môi trƣờng. Việc hình thành các kiểu rừng có liên quan chặt chẽ giữa sự hình thành các thảm thực vật tự nhiên với vùng địa lý và điều kiện khí hậu [25]. Việt Nam là một nƣớc có địa hình phức tạp, nằm trong vành đai nóng, giàu nhiệt và ẩm, chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa. Đặc điểm này đã ảnh hƣởng đến tất cả các thành phần của tự nhiên, nhất là lớp thực bì.

Vì vậy, tài nguyên thực vật rừng Việt Nam rất giàu về số lƣợng và phong phú về chủng loại. Ngoài trên 1000 loài cây gỗ lớn và nhỏ, Tre (gọi chung cho tất cả các loài thuộc họ Phụ tre – Bambusoideae) là lâm sản đứng sau gỗ và có thể thay thế cho gỗ trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong tình trạng cây gỗ của rừng nƣớc ta ngày càng cạn kiệt [11]. Tài nguyên rừng của Việt Nam đƣợc đánh giá là rất dồi dào. Ngoài các lâm sản là các loài thực vật thân gỗ vẫn luôn nhận đƣợc nhiều sự quan tâm nhất, thì các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao hiện cũng rất đƣợc con ngƣời chú ý.

Lâm sản ngoài gỗ là các nguyên liệu thô có nguồn gốc từ sinh vật không phải là gỗ, đƣợc thu hoạch từ rừng cho mục đích của con ngƣời. Chúng có thể bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa béo, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc sản phẩm của chúng), gỗ nhiên liệu và các nguyên liệu thô khác nhƣ tre nứa, song mây và thực vật gỗ nhỏ hoặc gỗ sợi [22]. Chúng có giá trị nhiều mặt, góp phần khá lớn vào phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo ở các địa phƣơng có rừng và đất rừng. Lâm sản ngoài gỗ có vai trò hết sức quan trọng trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và là nhân tố tác động tới sinh kế của ngƣời dân địa phƣơng.

Trong các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao ở nƣớc ta hiện nay thì tre trúc có thể đƣợc xem nhƣ chiếm vị trí quan trọng nhất. Theo thống kê của Ban chỉ đạo kiểm kê rừng Trung ƣơng năm 1999 [1], tổng diện tích rừng tre của Việt Nam là 1.068 ha, bằng 4,53% diện tích toàn quốc, với tổng trữ lƣợng là 8.552 ha rừng tre tự nhiên (cả rừng tre 1 thuần loài và hỗn giao với gỗ), với trữ lƣợng 8.516 ha rừng tre trồng với trữ lƣợng 96. Ngoài rừng tre trúc mọc tự nhiên tập trung, còn có hàng trăm triệu cây tre đƣợc trồng rải rác quanh các làng bản, trong các gia đình ở các vùng đồng bằng trung du và miền núi cũng tạo nên trữ lƣợng đáng kể. Các loài tre trúc đều là những cây đa tác dụng, hầu hết các bộ phận của chúng đều đƣợc con ngƣời tận dụng một cách triệt để nhƣ: Thân dùng để làm nhà, đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ, măng dùng làm thực phẩm đƣợc nhiều ngƣời ƣa chuộng, lá dùng cho chăn nuôi.Một tác dụng không thể không nhắc đến của các loài tre trúc đó là tác dụng phòng hộ [12].

Với lợi thế của một nƣớc có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mƣa nhiều đã tạo điều kiện cho sự sinh trƣởng mạnh mẽ của thảm thực vật rừng nói chung và của các loài tre trúc nói riêng. Từ đó góp phần không nhỏ cho công tác phòng hộ ở nƣớc ta. Tuy nhiên, việc sử dụng rừng tại nƣớc ta chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên có sẵn, ít quan tâm đến bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ. Điều này dẫn đến nguồn tài nguyên rừng ở khu vực ngày càng cạn kiệt, tất yếu sẽ làm suy giảm tính đa dạng sinh học của rừng và ảnh hƣởng tiêu cực đến cuộc sống của ngƣời dân sống dựa vào rừng [27].

Một trong số các loài tre trúc đa tác dụng và có giá trị cao đó là loài Vầu đắng (Indosasa angustata Mc.Clure), một loài tre trúc nằm trong phân họ Tre (Bambusoideae) thuộc họ Hòa Thảo (Poacae Barnh). Đây là một loài cây bản địa có thân ngầm mọc tản, phân bố tự nhiên ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc nƣớc ta [18]. Một trong số những tỉnh có vầu đắng phân bố nhiều nhất phải kể đến đó là tỉnh Bắc Kạn. Tại khu vực xã Yên Nhuận - Chợ Đồn -Bắc Kạn có rất nhiều vầu đắng mọc tự nhiên.

Ngƣời dân nơi đây có lịch sử khai thác và sử dụng vầu đắng lâu đời, xong đến nay tại địa phƣơng chƣa có đề tài nghiên cứu nào về kỹ thuật khai thác, sử dụng cũng nhƣ tình hình thị trƣờng tiêu thụ các sản phẩm của loài. Xuất phát từ thực tế này, tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng và thị trƣờng tiêu thụ loài Vầu 2 đắng (Indosasa angustata Mc.Clure) tại xã Yên Nhuận, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn" Với mong muốn thu thập đƣợc những thông tin làm cơ sở xác định nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp sử dụng cũng nhƣ phát triển bền vững tài nguyên vầu đắng tại địa phƣơng. 3 PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á trong đó có Việt Nam. Tre trúc dễ trồng, sinh trƣởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên đƣợc sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau.

Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi [19]. Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo, vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,. Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị.

Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trƣờng quốc tế và đƣợc nhiều nƣớc châu Âu, châu Mỹ ƣa chuộng. Chính vì vị trí quan trọng của tài nguyên tre trúc, nhiều nƣớc trên thế giới có tre trúc và kể cả những nƣớc sử dụng tre trúc đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tre trúc [4].Quá trình nghiên cứu các loài tre trúc trên thế giới Trên thế giới họ phụ Tre Trúc có khoảng 1200 loài, 70 chi, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới và một số ít loài phân bố ở vùng ôn đới và hàn đới. Theo Zho Fangchun (1998), tre trúc thế giới có thể chia làm ba vùng, đó là vùng tre trúc Châu Á - Thái Bình Dƣơng, vùng tre trúc Châu Mỹ và vùng tre trúc Châu Phi [8]. Có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh đƣợc vai trò quan trọng của loại tài nguyên lâm sản ngoài gỗ này đối với cuộc sống con ngƣời.

Công trình "Nghiên cứu về tre trúc" của Munro (1868) đƣợc coi là một trong những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005). Trong công trình nghiên cứu tác giả đã khái quát đƣợc một cách tổng quan về họ phụ tre trúc trên thế giới [12]. 4 Tiếp theo là công trình nghiên cứu "Các loài Bambusaceae ở Ấn Độ" của tác giả Gamble (1896). Công trình nghiên cứu đã cho biết 151 loài tre trúc ở Ấn Độ, Myanmar, Indonesia, Malaysia và đã xuất bản thành công công trình "Những bài học nhỏ về sinh lý tre nứa ở Ấn Độ".

Trong những tài liệu nghiên cứu sâu và cung cấp nhiều thông tin về tre nứa phải kể đến công trình "Rừng tre nứa" của I.Dig đã đƣợc FAO xuất bản năm 1959. Trong tài liệu này, tác giả đã tổng kết và đề cập đến các nhu cầu sinh thái, đặc tính sinh vật học của tre nứa nói chung. Ở Châu Á, các nƣớc nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản là những nƣớc có nhiều công trình nghiên cứu về đối tƣợng này [12]. Theo Fu Maoyi, Xiao Jianghua (1996) với “Cultivation & Utilization on Bamboos” đã xác định những nhân tố ảnh hƣởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trƣởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dƣỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh.

Đây là những nhân tố cần phải đƣợc quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh [23]. Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001) trong công trình “Cultivation and Integrated Utilization on Bamboo in China” bằng các thí nghiệm với loài Dendrocalamus latiflorus và Dendrocalamus oldhamii cho thấy phân bón làm tăng nhiệt độ trong đất giúp không khí và nƣớc lƣu thông tốt hơn, kích thích măng ra sớm hơn, sản lƣợng măng và thân khí sinh tăng cao hơn [21]. Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Tewari (2001) đã nghiên cứu về phân bố và cách nhận biết các loài tre trúc, tác giả đã chỉ ra đƣợc giá trị sử dụng hiện tại, chiến lƣợc và dự kiến các chƣơng trình nghiên cứu, đƣa ra đánh giá tài nguyên tre trúc cho từng nƣớc về số lƣợng loài và tiềm năng phát triển [24]. Một trong những trung tâm nghiên cứu về tre trúc điển hình trên thế giới là trƣờng đại học Kyoto Nhật Bản.

các mẫu đƣa vào nghiên cứu ở đây đƣợc thu thập từ khắp nơi trên lãnh thổ Nhật Bản. Nội dung nghiên cứu chủ yếu là đặc điểm sinh thái, sinh lý và cách thức nhân giống của các loài tre trúc. Ngoài ra trung tâm còn có những công trình nghiên cứu vƣợt qua lãnh thổ quốc gia, điển 5 hình là tiến sĩ Koichiro, ông đã nghiên cứu các đặc điểm sinh lý, sinh thái các loài tre trúc ở Ấn Độ và các vùng lân cận [6]. Hiện nay, các loài tre trúc ngày càng đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm.

Ở một số quốc gia, các loài tre trúc đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng, góp phần làm tăng trƣởng GDP của cả nƣớc [12].Quá trình nghiên cứu các loài tre trúc ở Việt Nam Ở Việt Nam, quá trình nghiên cứu các loài tre trúc có phần muộn hơn so với thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ