ĐẶT VẤN ĐỀ Nước thải (NT) đã được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản từ hàng thế kỷ nay ở một số nước, đặc biệt là Trung Quốc và một sổ nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam [40]. Sử dụng NT giúp nông dân và cộng đồng tăng sản lượng nông nghiệp và thủy sản, giảm thiểu sử dụng tài nguyên thiên nhiên và như vậy đóng góp vào phát triển bền vững. Tuy nhiên, sử dụng NT chưa qua xử lý trong sản xuất nông nghiệp có thể gây nên các vấn đề về sức khỏe cho con người như tiêu chảy và bệnh về da, đặc biệt là viêm da ở những người nông dân sử dụng nước thải [37]. Mặt khác, còn làm tăng nguy cơ nhiễm ký sinh trùng như giun đũa, giun kim và giun móc với những cả những người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp [34], Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính có 1,5 triệu người chết hàng năm do sử dụng nước không an toàn, thiếu nước hoặc vệ sinh, trong đó hầu hết là trẻ em.
Thêm nữa, ước tỉnh 860.000 trẻ em dưới 5 tuổi chết hàng năm là kết quả trực tiếp hay gián tiếp của tình trạng nhẹ cân và thiếu ăn liên quan tới tiêu chảy kéo dài hoặc bệnh ký sinh đường ruột [16]. Thiếu hệ thống xử lý nước thải đảm bảo và thiếu vệ sinh có thể dẫn tới 2 tỷ người trên toàn thể giới bị lây nhiễm ký sinh trùng đường ruột như giun đũa, giun tóc và giun móc thông qua đất nhiễm phân [16]. Tại nhiều vùng nông thôn miền bắc Việt Nam, bên cạnh sử dụng nước thải, phân người được sử dụng làm phân bón trong sản xuất nông nghiệp từ hàng thế kỷ, và vẫn còn sử dụng phổ biến hiện nay [29]. Tuy nhiên, sử dụng phân người có thể có nhiều nguy cơ với sức khỏe, như nhiễm ký sinh trùng đường ruột với tỷ lệ nhiễm giun đũa 44,4%, nhiễm giun tóc là 23,1% và nhiễm giun móc là 28,6% dân số theo nghiên cứu từ năm 1990 đến năm 2001 [36].
Tổ chức bảo vệ thiên nhiên Green Cross (Thụy Sĩ) và Viện Blacksmith (Mỹ) vừa công bo NT không qua xử lý là một trong 10 nguồn gây ô nhiễm nhiều nhất thông qua đánh giá về độ độc hại, cách thức gây độc và số người cỏ thể bị ảnh hưởng [21]. Theo báo cáo cùa tố chức này, chất thải gồm có phân người và NT không qua xử lý là nguy cơ chủ yểu tới sức khỏe con người vì có chứa các mầm bệnh lây truyền nguy hiểm, phá hủy môi trường sinh thái trong nước [21], Thực tế cho thấy, nhiều dòng sông tại Việt Nam hiện đang bị ô nhiễm nặng nề. Theo báo cáo môi trường Quốc gia năm 2006, việc sử dụng nước từ các dòng sông ô nhiễm (là nguồn NT chủ yếu) dùng trong sản xuất nông nghiệp đang làm gia tăng các bệnh về đường tiêu hóa tại một số tỉnh, đặc biệt là các tỉnh có dòng sông chảy qua [3]. Trong đó, tỉnh Hà Nam là một trong những tỉnh có tỷ lệ mẳc bệnh đường tiêu hỏa từ 1,5 đến 2,2 % dân số, cao nhất so với các tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của sông Nhuệ - Đáy như: Hà Tây, Ninh Bình, Nam Định và tỉnh Hòa Bình.
Mặt khác, tại tỉnh Hà Nam, các xã bị ảnh hưởng trực tiếp từ sông Nhuệ - Đáy có tỷ lệ bệnh tiêu chảy cao gấp 1,5 tới 2 lần so với các xã không bị ảnh hưởng. Đặc biệt, xã Hoàng Tây huyện Kim Bảng, Hà Nam có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh tiêu chảy cao nhất huyện lên tới 21%. Tại hai xã Hoàng Tây, Nhật Tân (huyện Kim Bảng), có tới 86% trẻ em mắc bệnh giun đũa, 76% mắc bệnh giun tóc và 9% mắc bệnh giun móc, tỷ lệ mắc bệnh giun đũa cao hơn 41,6% so với tỷ lệ chung của cả nước, tỷ lệ mắc bệnh giun tóc cao hơn 52,9% tỷ lệ chung của cả nước [3]. Theo nghiên cửu tại hai xã Hoàng Tây và Nhật Tân, thu nhập chính của người dân là từ sản phẩm nông nghiệp, một sổ gia đình có thêm thu nhập từ nghề mộc.
Nông dân ở đây thường sử dụng nước từ sông Nhuệ tưới cho lúa, rau và nuôi cá. Đặc biệt, có tới 82,9% hộ gia đình tại xã Hoàng Tây sử dụng phân tươi trong nông nghiệp [28]. Như vậy, người dân phải đối mặt với nhiều nguy cơ sức khỏe và bệnh tật mà có thể họ không nhận thấy hết, đặc biệt là đổi tượng dễ tổn thương như trẻ em dưới 5 tuổi. WHO đã đưa ra những hướng dẫn cho việc sử dụng NT, phân người an toàn trong sản xuất nông nghiệp, và những phương pháp đánh giá và theo dõi về nguy cơ của việc sử dụng chúng [40].
Nhưng nguy cơ sức khỏe và bệnh tật với người dân sử dụng NT và phân trong sản xuất nông nghiệp là có thế phòng tránh được, nếu chúng ta sử dụng NT và phân đã qua xử lý đúng cách, đồng thời thực hiện tốt vệ sinh, nhận thức được nguy cơ sức khỏe và phòng tránh. 3 Cho tới thời điểm hiện tại, có ít các nghiên cứu tìm hiểu nhận thức của người dân về sử dụng phân người và NT, một trong số ít các nghiên cứu đã được tiến hành tại huyện Thanh Trì Hà Nội và huyện Phúc Sơn tỉnh Nghệ An, Knudsen, L., và cộng sự đã cho thấy nhận thức nguy cơ của nông dân ở Việt Nam liên quan tới việc sử dụng phân người và nước thải trong sản xuất nông nghiệp[27]. Tuy nhiên nghiên cứu chưa đề cập tới sự khác biệt và mối liên quan giữa nhận thức của nông dân về nguy cơ sức khỏe, biện pháp phòng bệnh với các hành vi nguy cơ, thói quen, ý định thực hiện hành vi phòng bệnh và thực hành của họ. Tìm hiểu mối liên quan giữa nhận thức và hành vi nguy cơ sức khỏe của người dân là yếu tố quan trọng giúp cho thành công của chương trình tuyên truyền, thay đổi hành vi nguy cơ và thực hiện biện pháp phòng bệnh.
Phương pháp nghiên cứu định tính có thể giúp nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu nhận thức và hành vi nguy cơ, nhưng khó có thể sử dụng để đánh giá nhận thức và hành vi nguy cơ trên nhiều đối tượng, cờ mẫu lớn vì đòi hỏi nhiều thời gian. Như vậy, nhằm đánh giá nhận thức và hành vi của người dân trên phạm vi địa bàn lớn, nghiên cứu xây dựng bộ câu hỏi dựa trên một phần kết quả nghiên cứu định tính. Mặt khác, cơ sở khoa học của quá trình hình thành và thay đổi hành vi được lý giải bởi nhiều thuyết hành vi. Thuyết động lực bảo vệ (PMT) là một trong những thuyết hành vi được ứng dụng rỗng rãi trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả những vấn đề về sức khỏe, phòng chổng nguy cơ như: phòng chống ung thư, lạm dụng rượu bia, hút thuổc là, HIV/AIDS, phòng ngừa bệnh tim mạch.
tuy nhiên chưa cỏ nghiên cứu áp dụng tìm hiếu nguy cơ sức khỏe và hành vi nguy cơ trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là liên quan tới việc sử dụng nước thải và phân người. Điểm quan trọng, PMT là thuyết về hành vi duy nhất có thành tố Khả năng thực hiện thành công hành vi phòng bệnh (self-efficacy), thành tố có vai trò quan trọng hình thành ý định/dự định thực hiện hành vi phòng bệnh và duy trì hành động này vượt qua các khó khăn và trở ngại. Vì vậy, nhằm tìm hiểu nhận thức của người dàn về nguy cơ sức khỏe, những yeu tố liên quan tới sử dụng phân người và nước thải trong sản xuất nông 4 nghiệp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “ Xây dựng bộ câu hỏi đảnh giả một số yếu tổ liên quan đến hành vi sử dụng phân người và nước thải của người dân trong sản xuất nông nghiệp tại xã Hoàng Tây và Nhật Tân tỉnh Hà Nam năm 2008 theo Thuyết động lực bảo vệ". Đây là một nghiên cửu nhỏ nằm trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia về năng lực nghiên cứu Bắc - Nam Thụy Sĩ (NCCR North - South) về sức khỏe và vệ sinh môi trường ở Việt Nam 5 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 1.
Tìm hiểu nhận thức của người dân liên quan tới hành vi sử dụng phân người và nước thải trong sản xuất nông nghiệp theo các thành tô trong thuyết động lực bảo vệ. Xây dựng bộ câu hỏi đánh giá nhận thức và hành động của người dân liên quan tới hành vi sử dụng phân người và nước thải trong sản xuất nông nghiệp theo thuyết động lực bảo vệ. TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sử dụng phân người và nước thải trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản 1.
Trên thế giói Nước thải và phân được sử dụng ngày càng nhiều cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản ở cả những nước công nghiệp và nước đang phát triển. Chúng được sử dụng bởi những lý do chính sau: • Tăng sự khan hiếm nước và sử dụng nước thải là lựa chọn bắt buộc. • Tăng dân số, tăng ô nhiễm môi trường từ việc loại bỏ nước thải một cách không hợp lý. • Giá trị của nguồn nước thải và phân người [40].
Hom 10% dân số thế giới dùng thức ăn được tưới bàng nước thải. Tỷ lệ này cao hom ở những nước thu nhập thấp với khí hậu khô hạn. Nước thải không được xử lý thường được sử dụng cho tưới tiêu ở những nước kém phát triển. Những nơi nước thải không được xử lý hoặc có mức độ ô nhiễm cao sử dụng cho tưới tiêu, có thê có những vấn đề về sức khỏe và môi trường phát sinh.
Nói chung, dân số tăng lên sẽ là yểu tổ chính tăng áp lực phụ thuộc vào nguồn nước. 100 90 80 70 s? 60 ĩ- 50 40 30 20 10 0 Châu Phi Châu Á Mỹ La tinh vá Bắc Mỹ Châu Âu Caribbean Vùng Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ phần trăm nước thải được xử lý (Báo cáo đánh giá nguồn nước cung cấp và vệ sinh toàn cầu) 7 Biểu đồ 1.1 cho thấy tỷ lệ phần trăm nước thải được xử lý, vùng Bắc Mỹ và Châu Âu là các nơi có tỷ lệ sử xử lý nước thải cao nhất. Ở Mỹ, vùng California, xấp xỉ 67% nước thải và ở Isael gần 75% nước thải được xử lý và tái xử dụng cho tưới tiêu [41].