ĐẶT VẤN ĐỀ 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà tạo hóa đã ban tặng cho hành tinh chúng ta. Nó là khởi nguồn của sự sống vạn vật, không có nước con người không thể tồn tại được, không có bất cứ một hoạt động kinh tế nào diễn ra. Trong cơ thể con người nước chiếm tới 70% trọng lượng.
Hàng ngày mỗi người cần tối thiểu 60 – 80lít, tối đa 150 – 200lít nước hoặc hơn nữa dùng cho sinh hoạt tối thiểu cũng 1,5– 2lít nước mỗi ngày. Mặc dù nước chiếm 71% bề mặt trái đất nhưng lượng nước có thể dùng trong sản xuất và sinh hoạt lại rất ít, chỉ chiếm 3%. Nước thiết yếu như vậy, nhưng loài người đang đứng trước nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng. Trên thế giới hiện có 80 quốc gia và 40% dân số không đủ nước dùng.
Một phần ba các điểm dân cư phải dùng các nguồn nước bị ô nhiễm để ăn uống, sinh hoạt. Việt Nam có 78% người dân làm nông nghiệp, với hơn 10 triệu hộ nông dân. Mặc dù có được sự quan tâm của nhà nước nhưng mới chỉ có 46 – 50% dân cư đô thị, 36 – 43% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch. Trong khi đó môi trường đang là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu.
Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học kĩ thuật vào những thập kỉ cuối của thế kỉ XX đồng thời tác động tiêu cực tới môi trường sống của loài người. Nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam môi trường đang bị suy thoái, tài nguyên thiên nhiên đang bị cạn kiệt, hệ sinh thái mất cân bằng, chất lượng cuộc sống suy giảm. Hàng loạt các biện pháp được đề xuất thực hiện và đã đạt không ít thành công trong lĩnh vực này. Một trong những biện pháp hữu hiệu đó là việc con người đã phát hiện và tiến hành khai thác các nguồn năng lượng mới như:gió, thủy triều, năng lượng mặt trời .Tuy nhiên để xây dựng được các công trình đó phải đòi hỏi phải tốn rất nhiều thời gian, chi phí xây dựng và cũng chưa thể thực hiện được ở các nước đang phát triển như nước ta.
Hiện nay công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều nghành công nghiệp phát triển hầu hết tất cả các nghành 2 như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ trongy tế, bệnh viện, trường học đều gây ra ô nhiễm môi trường mà chưa có các biện pháp xử lý. Đặc biệt là nước thải chưa có đơn vị nào nghiêm chỉnh chấp hành lắp đặt hệ thống xử lý nước thải có hiệu quả, không chỉ các nghành công nghiệp mới thải ra nước thải hóa chất mà ngay trong trường học là môi trường đào tạo mà nước thải từ phòng thí nghiệm là nước thải độc hại, các hóa chất sử dụng, rửa, lau, chùi dụng cụ phòng thí nghiệm.Nước thải đó được xử lý hay không? Và được thải đi đâu? Nếu được xử lý thì nước xử lý xong có đạt tiêu quy chuẩn môi trường hay không? Có sử dụng vào mục đích khác được hay không? Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nước thải của các phòng thí nghiệm, nước thải của viện Khoa học Sự sống chứa các hóa chất độc hại chưa được xử lý mà thảira ngoài môi trường gây ô nhiễm môi trường. Ngày 23 tháng 10 năm 2013 nhà trường đã có hệ thống xử lý nước thải để xủ lý nước thải phòng thí nghiệm, nước thải của viện Khoa học Sự sống để xử lý nước thải. Liệu hệ thống xử lý nước thải này có đạt được kết quả như mong đợi ? Đây đang là vấn đề trăn trở không chỉ của riêng tôi mà còn nhiều thầy cô nhiều sinh viên trong môi trường đào tạo còn thắc mắc, cụ thể tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS.Vũ Thị Quý, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá khả năng xử lý nước thải của hệ thống xử lý nước thải phòng thí nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Đánh giá mức độ ô nhiễm của nước thải và khả năng xử lý của hệ thống xử lý nước thải phòng thí nghiệm. Từ đó đề xuất một số giải pháp trong quản lý và bảo vệ môi trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI - Đánh giá chung về Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
- Hệ thống xử lý nước thải và đặc điểm của hệ thống xử lý nước thải phòng thí nghiệm trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên. 3 - Đánh giá mức độ ô nhiễm của nước thải phòng thí nghiệm và khả năng xử lý nước thải của hệ thống xử lý nước thải phòng thí nghiệm. - Đề xuất giải pháp giảm thiểu nước thải. - Đánh giá của thầy cô, chuyên viên làm việc tại các khoa có nước thải vào hệ thống xử lý nước thải phòng thí nghiệm.
Ý NGHĨA CỦA ĐỂ TÀI * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế. - Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu. - Là nguồn tài liệu cho học tập và nghiên cứu khoa học. * Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được khả năng xử lý nước thải của hệ thống.
- Đưa mô hình ứng dụng thực tiễn nhiều hơn. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2. Khái niệm nước Nước là một hợp chất hóa học của ôxy và hiđrô, có công thức hóa học là H2O.
Với các tính chất lí hóa đặc biệt (ví dụ như tính lưỡng cực, liên kết hiđrô và tính bất thường của khối lượng riêng) nước là một chất rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và trong đời sống 2. Vai trò của nước và sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên nước * Vai trò của nước -Vai trò của nước đối với sức khỏe con người Nước rất quan trọng cho hoạt động sống của con người cũng như các loài sinh vật khác.Nước chiếm 75% trọng lượng của trẻ sơ sinh, 55-60% cơ thể nam trưởng thành, 50% cơ thể nữ trưởng thành. Nước cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì cơ thể bởi nước quyết định tới toàn bộ quá trình sinh hóa diễn ra trong cơ thể con người. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy con người có thể nhịn ăn trong năm tuần, nhưng nhịn uống không quá năm ngày và nhịn thở không quá năm phút.
Khi đói trong một thời gian dài cơ thể sẽ tiêu thụ hết một lượng glycogen, toàn bộ mỡ dữ trự, một nửa lượng protein để duy trì sự sống. Nhưng nếu cơ thể chỉ cần mất hơn 10% nước là đã nguy hiểm tới tính mạng và mất tới 20-22 % nước sẽ dẫn tới tử vong. - Vai trò của nước đối với sản xuất và đời sống con người Cũng như không khí và ánh sáng, nước không thể thiếu trong cuộc sống con người. Trong quá trình hình thành sự sống trên trái đất thì nước và môi trường nước là rất quan trọng.
Nước tham gia vào vai trò tái sinh thế giới hữu cơ (tham gia vào quá trình quang hợp). Trong quá trình trao đổi chất nước đóng vai trò trung tâm. Những phản ứng lý học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của nước. Nước là dung môi của nhiều chất và đóng vai trò dẫn đường cho các muối đi vào cơ thể.
5 Trong đời sống nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt, nâng cao đời sống tinh thần cho con người. Nước cũng đóng vai trò cực kì quan trọng trong sản xuất công nghiệp. Tham gia vào rất nhiều các công đoạn sản xuất, vào các hệ thống xử lý, vào các quá trình làm nguội máy. Trong các tổ chức trường học nước không kém phần quan trọng trong vệ sinh trong thực hành, thí nghiệm, hóa chất, chùi rửa các dụng cụ.
Đồng thời còn có vai trò điều tiết các chết độ nhiệt, ánh sáng, chất sinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí. Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km3 , trongđó 8 % cho sinh hoạt, 23 % cho công nghiệp, 63 % cho hoạt động nông nghiệp và 6 % còn lại dùng cho hoạt động khác. Tóm lại nước có vai trò cực kì quan trọng, do đó bảo vệ nguồn nước là sự thiết yếu cho cuộc sống con người hôm nay và mai sau. * Sự cần thiết phải bảo vệ nguồn nước Nước đóng vai trò hết sức quan trọng không thể thiếu được trong đời sống xã hội, dưới tất cả các dạng của nước gồm rắn, lỏng và khí.
Vì vậy nước là một tài nguyên cực kì cần thiết. Trên trái đất có khoảng 361 triệu km3 diện tích là các đại dương, như vậy nước bao phủ 71 %diện tích của trái đất, trong đó có 97 % là nước mặn, còn lại là nước ngọt. Trong 3 % là nước ngọt trên trái đất thì gần 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực. Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm và chỉ một tỉ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí, trong đó chỉ có khoảng 0,003 % là nước ngọt sạch mà con người có thể sử dụng được.
Con người mỗi ngày cần 250 lít nước để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên nguồn tài nguyên này phân bố không đồng đều ở mỗi khu vực, cũng như từng quốc gia trên thế giới. Một trong những đặc tính quan trọng của tài nguyên nước là sự tuần hoàn hay có thể nói là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy nguồn nước không phải là không cạn kiệt, việc cung cấp nước ngọt và nước sạch trên thế giới 6 đang từng bước giảm đi. Nhu cầu nước ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng dân số, cùng với đó, sự gia tăng dân số cũng khiến cho nguồn nước ngày càng suy giảm về chất lượng do các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt các khu dân cư, bệnh viên, trường họcsử dụng lãng phí.đã làm suy giảm nguồn nước.
Đây là vấn đề không chỉ của riêng một quốc gia nào, do đó bảo vệ tài nguyên nước là một vấn đề toàn cầu để có thể sử dụng tài nguyên này một cách hiệu quả và bền vững nhất.