Đặt vấn đề Khả năng tái sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp đang được đánh giá cao, việc chuyền đổi phụ phẩm nông nghiệp thành các sản phẩm có giá trị có thể giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường, giảm lượng phát thải khí nhà kính và nâng cao hiệu quả kinh tế cho cả đoanh nghiệp và đất nước. Hiện nay, sản lượng phụ phẩm nông nghiệp tại Việt Nam tông cộng đang ở mức khoảng 160 triệu tan hàng năm, trong đó phan lớn là phụ phẩm từ thu hoạch cây trồng và quá trình chế biến nông sản. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nhiều biện pháp tối ưu hóa dé khai thác hết tiềm năng của nguồn phụ phẩm này. Nam 2019, giá trị nhập khẩu sầu riêng từ Thái Lan đạt 1,6 tỷ USD, diện tích trồng sầu riêng ở Malaysia là 72.536 ha, sản lượng đạt 384.
Tại Việt Nam, thời gian gan đây, diện tích canh tác sầu riêng đã gia tăng nhanh chóng, trở thành loại cây ăn trái quan trọng, mang lại giá trị kinh tế lớn. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan năm 2023, sầu riêng được coi là "cây tỷ đô" khi xuất khẩu đạt 1 triệu tan vào tháng 9/2023, với giá trị lên đến 1,63 tỷ USD. Năm 2023, theo số liệu thống kê từ Cục Trồng trọt thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích canh tác sầu riêng tại Việt Nam đạt khoảng 131.000 ha, tăng khoảng 20% so với năm 2022. Sau riêng được mệnh là “vua của các loại trái cây” vì ngoài có mùi vị thơm ngon lại còn chưa nhiều các thành phần dinh dưỡng như: chất béo, protein, acid chloric, carbohydrate,.
Tuy nhiên, chi có phan thịt màu vàng của trái sầu riêng chiếm 20 — 25% tổng trọng lượng là được sử dụng, trong khi phần hạt chiếm 5 — 15% và phần vỏ chiếm 60 — 70 % lại bị bỏ đi. Quá trình chế biến và sử đụng quả sầu riêng tạo ra một lượng lớn rác thải nông nghiệp là vỏ và hạt ra ngoài môi trường, có khả năng tác động đến môi trường xung quanh với việc phát thải mùi và thu hút vi sinh vật gây bệnh. Đi đôi với việc tăng sản lượng thì cũng tăng lượng rác thải của phụ phẩm sau riêng ra ngoài môi trường, tuy nhiên vỏ và hạt sầu riêng đã được chứng minh là có chứa nhiều chất đinh dưỡng vả nhiều hoạt tính sinh học có lợi. Các nghiên cứu về sầu riêng hiện nay lại chủ yếu tập trung vào chế biến và bảo quản phần thịt sầu riêng, nghiên cứu về vật liệu và than hoạt tính từ vỏ sầu riêng.
Còn việc nghiên cứu về được tính cũng như hoạt tính sinh học của vỏ và hạt sầu riêng còn tương đối hạn chế và chưa được ứng dụng nhiều. Vì vậy, mục đích của nghiên cứu này là chiết xuất, đánh giá hàm lượng hoạt tính sinh học và khảo sát hoạt tính chống oxy hóa từ vỏ và hạt giống sầu riêng Ri6 của tỉnh Bến Tre, làm cơ sở dữ liệu và làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo cho việc ứng dụng nguồn phụ phẩm của trái sầu riêng trong lĩnh vực thực phẩm. vật liệu, được pham giúp nâng cao giá trị sử dụng sầu riêng cũng như giảm lượng chất thải ra ngoải môi trường tạo nên một nền nông nghiệp bên vững. Mục tiêu của đề tài Xây dựng cơ sở dữ liệu về thành phần hóa thực vật và hoạt tính sinh học của vỏ và hat sầu riêng Ri6.
Nội dung thực hiện Nội dung 1: Xử lý và đánh giá đặc tính nguyên liệu đầu vào. Nội dung 2: Khảo sát sự ảnh hưởng của các nồng độ dung môi ethanol (50%, 70%, 90%) và thời gian chiết (10 phút, 20 phút, 30 phút) đến quá trình trích ly cao chiết từ vỏ và hạt sầu riêng. Nội dung 3: Xác định hàm lượng các hợp chất sinh học (TPC, TFC) trong các loại cao chiết từ vỏ và hạt sầu riêng. Nội dung 4: Xác định hoạt tính kháng oxy hóa (ICso DPPH, ICso ABTS”) của các loại cao chiét từ vỏ va hạt sâu riêng.
TONG QUAN TAI LIEU 2. Téng quan vé sau riéng 2. Nguồn gốc va phân bố dia lý Sâu riêng là một loại trái cây nhiệt đới có nguôn gôc ở ban dao Malay và phân bô chủ yêu ở các nước vùng Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Campuchia, Lao Myanmar, Sri Lanka, Philippines, Singapore và Việt Nam. Tại Việt Nam, sau riêng được trồng nhiều tại các tinh thuộc Đồng Bang Sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh ven biển miền Trung.
Riêng về giống sầu riêng Ri6 có nguồn gốc ở Myanmar du nhập vào Việt Nam năm 1986 và được trồng đầu tiên ở Bình Hòa Phước, huyện Long H6, tinh Vinh Long. Phan loại khoa hoc Sau riêng (Durio zibethinus L.) có tên tiéng Anh là Durian, thuộc giới Planate, ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida, bộ Malvales, họ Bombacaceae, chi Durio. Bombacaceae bao gồm cây bao tap của vùng châu Phi (Adansonia digitata), cây hạt dé (Pachira aquataca), cây bombax (Bombax ellipticum), cây vải sồi tơ (Chorisia speciosa) và cây gỗ nhẹ (Ochroma pyramidale). Có 9 loài trong họ này ăn được cụ thé là D.
testudinarum, Durio sp. Tuy nhiên, chỉ có loài D. zibethinus được trồng và thu hoạch phô biến nhất (Văn Chí Khang và ctv, 2022). Ngoài cái tên sầu riêng do người Việt thường gọi, thì còn có các tên bản địa khác như turen (Khmer), doerian (Indonesia),.
Đặc điểm thực vật Cây sau riêng thường có chiều cao khoảng 20 — 30 m, tán lá thưa. Hoa mọc khi hết mùa mưa và khi mùa khô tới. Cây sầu riêng cho hoa sau 8 — 10 năm. Tuôi đời cây sầu riêng thường từ 80 — 150 năm.
Sầu riêng ưa khí hậu nóng và ẩm, nhiệt độ không quá cao hoặc quá thấp, độ âm cao và ồn định, ít khi có nang và bức xạ không quá lớn. Sầu riêng chịu hạn rất kém, sợ gió vi thân cây yêu, gỗ giòn và dé gãy. Hoa của cây sầu riêng phát triển thành từng chùm, thường xuất hiện số lượng lớn, khoảng 1 - 45 hoa/chùm trên cành cây nhưng ít khi xuất hiện ở đầu cành. Mỗi chùm hoa 3 thường chỉ có 1 hoặc 2 trái phát triển.
Đài hoa của sầu riêng có 5 cánh màu kem, đôi khi có tông xanh nhẹ. Nhị đực hình thành 5 chùm nhị, mỗi chùm có khoảng 10 - 12 bao phan. Bau hình trái có dạng xoan, vòi dài, đầu nhụy trong có 5 mảnh và khi chín trái có nhựa dính. Cây sầu riêng trưởng thành và cho qua sau 5 - 7 năm ké từ khi hạt nảy mầm.
Mỗi cây sầu riêng cho khoảng 15 — 800 quả trong mỗi mùa. Trọng lượng quả thường từ 1 — 3 kg, đường kính trong khoảng 14 — 18 cm và chiều đài khoảng 19 — 32 cm. Quả sau riêng có hình tròn hoặc thuôn dài, mặt vỏ ngoài nhiều gai, màu xanh nhạt hoặc hơi nâu. Quả có 3 — 5 đường doc kéo dài từ đỉnh đến đầu cuốn và sẽ nứt ra khi quả chín hoàn toàn.
Hat sầu riêng có hình dạng giống hat dé, màu nâu, có chiều dai hạt khoảng 2 — 6 cm và đường kính hạt khoảng 2 — 3 cm. Phần có thể ăn được là màng hạt được gọi là thịt quả sầu riêng. Thành phần hóa lý và hoạt tính sinh học 2. Hạt sầu riêng Hạt sầu riêng chứa 54,90% độ âm; 1,58% tro; 3,40% protein; 1,32% chất béo và 18,92% tinh bột (Berry và ctv, 1980).
Ngoài ra còn chứa 12,2% palmitic axit; 8,42% oleic axit và 6,50% linoleic axit (Raihana và ctv, 2015). Về hàm lượng lipit và chất xơ, hạt sầu riêng cho thấy sự vượt trội, có thé trở thành nguyên liệu thực phẩm tốt cho sức khỏe hơn so với bột mì (Kumoro và ctv, 2020). Bột hạt sầu riêng có thể được kết hợp vào các sản phẩm thực phẩm như bánh ngọt, bánh quy, súp, tempura,. vì nó có nhiều chất dinh dưỡng và có hàm lượng chat xơ cao (Amin và ctv, 2009).
Nó cũng có thé được sử dụng làm chất đông đặc do có chứa hydrocoloid. Trong hạt sầu riêng được báo cáo là có thành phần polyphenol là thành phần tự nhiên có trong nhiều loại thực phẩm, nó đóng góp nhiều đặc tính chữa bệnh như chống oxy hóa, chống viêm, chống virut, chống huyết khối và chống ung thư. Ngoài ra, còn có flavonoid là nhóm hợp chat phenolic có tác dụng tăng cường miễn dịch, chống di ứng, chống ung thư, chống oxi hóa, chống viêm, kháng tiểu cầu, ức chế phát triển của khối u, chống co thắt, lợi tiêu và bảo vệ mach máu. Hàm lượng polyphenol trong hat sầu riêng khoảng 5,056 - 367 mg GAE/100 g vật chất khô và hàm lượng flavonid khoảng 0,39 — 12,979 mg QE/g.
Hạt sầu riêng đã được báo cáo cho thấy có khả năng chống tăng sinh 0,95% đối với dong tế bao ung thư phổi ở người (A549), 0,91% đối với dòng tế bao ung thư vú ở người (MCF - 7), 0,84% đối với dòng ung thư gan (HepG2) và 0,82% đối với dòng ung thư ruột kết (HT — 29) (Li va ctv, 2013). Vỏ sầu riêng Vỏ sầu riêng chứa nhiều thành phần hóa học, chủ yếu bao gồm axit phenolic, glycoside phenolic, flavonoid, triterpen, glycosid, cellulose,. Tỉ lệ chiết xuất polyphenol từ vỏ ngoài sầu riêng là 1,86 mg/g và có tổng ham lượng polyphenol là 101,06 + 3,36 mg GAE/g DW (Wen-quiang và ctv, 2020). Hiện nay, vỏ sầu riêng đã được chiết xuất và phát hiện có 5 axit phenolic va 8 phenolic glycosides.
Tổng cộng có 9 loại flavonoid đã được phát hiện trong quả sau riêng bao gồm: quercetin, quercitrin, rutin, quercetin — 3 - O—rhamnoside, quercetin — 3 — O — glucoside, catechin, epicatechin, procyanidin B, malvidin — 3 — O — glucoside (Zhan va ctv, 2021). Nghiên cứu của Huang (1999) đã sử dụng GC — MS dé phân tích vỏ sầu riêng và phát hiện chứa axit béo bão hoà. Trong đó axit hexadecanoic hàm lượng cao nhất là 25,41%; 3,20% axit octadecanoic và 1,54% axit behenic. Hàm lượng axit béo không no trong vỏ là 56,37% trong đó, axit octadecanoic chiếm 37,09%; axit 9, 12 — octadecadienoic (E, E) chiếm 16,28%.
Đã có 14 hợp chất dé bay hơi đã được xác định trong vỏ sầu riêng. Hợp chất chính là este (59,71%) và hợp chất axit (26,56%). Trong vỏ sau riêng được Wanlapa va ctv (2015) báo cáo cho thay tổng lượng chat xơ (79,18 + 3,46 g/100 g chất khô), chất xơ không hòa tan (65,13 + 2,21 9/100 g chất khô) và chất xơ hòa tan (13,05 + 1,21 g/100 g chất khô), pectin không hòa tan (4,11 + 1,16 g/100 g chất khô), hemicellulose (18,51 + 1,16 g/100 g chất khô), cellulose (38,05 + 1,35 g/100 g chất khô), lignin (2,36 + 0,24 g/100 g chất khô). Vỏ sầu riêng có độ âm tổng là 7%, hàm lượng chất béo là 0,9%, hàm lượng protein là 4,9%, hàm lượng tro là 8,5% và 78% hàm lượng carbonhydrate (Alighiri và ctv, 2020).