Chương 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. (THEACEAE) VÀ NGUỒN NGUYÊN LIỆU 1.1 Một số đặc điểm cơ bản của cây Camellia sp. (Theaceae) thuộc bộ Theales (thường được gọi là cây Du trà) là loại cây thân gỗ nhỏ, cao trung bình khoảng 3-5m, thân to khoảng 8- 12cm, một gốc thường có từ 3-5 thân cây không phân biệt thân chính hay phụ do chỉa cành rất sớm, vỏ màu nâu hay xám, tán nhỏ nhưng khá dày và phân bố đều tạo thành nhiều dạng khác nhau: hình ô, hình trứng, hình nón, hình tháp, trụ. Lá đơn mọc cách, cuống ngắn, mép lá có răng cưa nhỏ, hình dạng và kích thước lá khác nhau.
Qua nghiên cứu, tác giả Nguyễn Quang Khải và cộng sự đã kết luận rằng ngay trong cùng một loài Du trà đã có sự khác nhau rõ rệt về hình dạng, màu sắc và kích thước của lá giữa những cá thể cây khác nhau [8]. (Theaceae) trồng tại Nghĩa Đàn, Nghệ An (2005) 9 Hoa Du trà thuộc loại lưỡng tính, màu trắng không có cuống. Hoa có 5-7 tràng, 35-40 nhị màu vàng, bầu hạ thường có từ 3-4 ô. Du trà ra hoa từ giữa tháng 10-12 hàng năm, hình thành mầm hoa vào mùa xuân và phân hoá rõ rệt vào tháng 5-6.
Quả Du trà hình tròn, đầu hơi lõm hay thuôn dài, có loại quả giữa phình to, hai đầu hơi lõm. Kích thước và trọng lượng quả khác nhau do một số giống Du trà và vùng trồng khác nhau. Đường kính trung bình 3-6 cm, độ dầy của vỏ từ 0. Quả có nhiều hạt mầu nâu vàng hoặc nâu xám, khi chín có mầu nâu đen.
Nhân hạt có chứa dầu, theo nhiều tài liệu nghiên cứu thì hàm lượng khoảng 45-50% khối lượng nhân. Dầu có dạng lỏng sánh, màu vàng, không mùi, vị dịu ngọt [8]. Có phân bố khá rộng ở vùng á nhiệt đới châu Á, Du trà có mặt tại các n- ước Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Myanma, Ấn Độ từ 18 o21 đến 34o34 độ vĩ bắc. Ở nước ta, Du trà đã được trồng đến vĩ tuyến 17o thuộc Vĩnh Linh, Cam Lộ.
Loài cây này ưa khí hậu ấm và ẩm, nhiệt độ không khí bình quân năm từ 18 -240C, chịu rét đến 2 o-3o C. Nó cần có nhiệt độ tháng giêng mát giúp cho 0 việc tích lũy dầu của quả. Tuy nhiên nó cũng có khả năng chịu được nhiệt độ cao của gió Lào nóng vào các tháng mùa hè. Du trà ưa thích độ ẩm tương đối ở thời kỳ ra hoa 65-70%, thời kỳ nuôi quả 80-85%.
Lượng mưa năm thích hợp từ 1300-1500mm. Tổng số giờ nắng từ 1500 giờ/năm trở lên. Giai đoạn cây con dưới 2 năm cần che bóng nhẹ, cây lớn cần ánh sáng hoàn toàn mới ra hoa kết quả tốt. Du trà sinh trưởng tốt ở vùng đồi có độ cao dưới 500 mét so với mực nước biển.
Một đặc điểm sinh thái rất quan trọng đó là cây Du trà không kén đất, sống được trên các vùng đất bạc màu, đất trống đồi trọc, đất thoái hóa khô cằn. Cây sinh trưởng ra hoa kết quả tốt ở các loại đất nâu vàng, đỏ vàng, vàng đỏ trên các loại đá mẹ phiến thạch sét, sa phiến thạch, ryôlit như ở Lạng Sơn, trên đất đỏ bazan vùng Vĩnh Linh- Quảng Trị, trên đất cát cố định như Vĩnh Chấp- Vĩnh Linh. Cây sinh trưởng và ra quả nhiều trên đất đỏ bazan có tầng đất dày 50cm, tỷ lệ mùn trong đất trên 1% [29]. Cây Du trà có rễ cọc đâm sâu tới 1,5m tùy theo loại đất trồng, có hệ rễ bàng phân nhánh và phát triển mạnh thường phân bố ở độ sâu từ 20-40cm.
Chiều dài rễ bàng trung bình từ 3-3,5m. Ngoài ra, còn có rễ cám phát triển 10 dày đặc ngay trên mặt đất. Do đó, cây Du trà được chọn là một trong các loại cây trồng rừng phòng hộ, chống xói mòn, phủ xanh đất trống đồi trọc. Du trà có khả năng tái sinh hạt và chồi trong đó tái sinh chồi rất mạnh.
Nó sinh trưởng chậm trong những năm đầu (1-4 năm) và mức độ sinh trưởng nhanh hơn từ năm thứ 5. Cây trồng trên đất tốt sau 5 năm bắt đầu ra hoa kết quả nhưng sản lượng quả và hạt chỉ ổn định khi rừng Du trà đạt từ 15 năm trở đi. Cây sống lâu năm vẫn cho thu hoạch quả lâu dài nhưng cần phải quản lý chăm sóc và nuôi dưỡng đều đặn hàng năm nếu không rất dễ hoang hóa. Ở nước ta, các nhà khoa học đã xác định được hai loài Du trà phân bố tự nhiên và được trồng chủ yếu là Camellia oleifera Abel và Camellia sasanqua Thunb.
oleifera Abel hay Camellia drupifera Lour, còn được gọi là sở Quýt, sở Cam, sở Lê…phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng miền núi phía bắc như Hà Giang, Lạng Sơn, Phú Thọ. sasanqua Thunb, có tên địa phương là sở Chè, phân bố và trồng chủ yếu ở các tỉnh từ Thanh Hóa, Nghệ An đến Huế. Tại mỗi địa phương, nhân dân gọi Du trà bằng các tên khác nhau như trà mai, sở, sở dầu, chè dầu, mắc cà dầu…Ở vùng Nghĩa Đàn, Nghệ An, có rừng Du trà 30 năm tuổi được xác định là thuộc loài C. sasanqua Thunb hay thường gọi là Sở Chè [8].
Tuy nhiên, nhà thực vật học Đỗ Huy Bích (Viện Dược liệu) lại xác định rằng đó là loài sở Chè Camellia drupifera Lour [18]. Nguyên liệu khô Du trà dùng trong luận văn nghiên cứu này được chúng tôi thu nhận từ vùng Nghĩa Đàn. Đây là một huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An với 30.000 ha đất lâm nghiệp trong đó có tới 14.008 ha đất trống đồi núi trọc. Cây Du trà có mặt tại đây từ năm 1968 và được trồng tập trung.
Tuy nhiên do chưa có nhiều hiểu biết về khả năng phòng hộ và giá trị kinh tế của nó nên sau đó diện tích đã trồng bị chặt bỏ gần hết. Đến nay chỉ còn 15 ha Du trà hơn 30 năm tuổi, còn lại là khoảng 1670 ha trồng mới từ những năm 1997. Qua theo dõi của ngành nông nghiệp tỉnh, cây Du trà sau khi trồng đến năm thứ 4 cho quả bói, năm thứ 7 bắt đầu cho thu hoạch khoảng 1-1.5 tấn hạt/ha. Nếu chăm sóc đúng kỹ thuật, đến năm thứ 10 có thể cho sản lượng 2.5-3 tấn hạ/ha [4].
Trong những năm tới, diện tích trồng Du trà theo dự kiến sẽ lớn hơn rất nhiều. Vì vậy, vấn đề nâng cao giá trị kinh tế từ cây Du trà là hết sức có ý 11 nghĩa, góp phần tăng nhanh diện tích trồng và chăm sóc rừng cây Du trà vừa có giá trị phòng hộ, môi trường vừa giúp người dân các vùng miền núi có cơ hội cải thiện đời sống.2 Hạt và khô dầu từ hạt Camellia sp. Quả Du trà có hình dạng tròn hơi thuôn dài hay dẹt ở cuống và đuôi quả. Tuy nhiên, cũng giống như đối với lá, quả Du trà cũng có sự khác nhau về hình dạng, kích thước, trọng lượng và tỷ lệ hạt quả.
1: Kích thước, trọng lượng quả, hạt của cây Du trà Việt Nam [8] Kích thước quả Trọng lượng 100 Tỷ lệ Tr.lượng Loài và xuất (cm) quả tươi (g) hạt/quả 1000 hạt Hình dạng quả xứ Đ.dài Quả tươi Hạt tươi tươi khô (g) Sở Chè NĐ 3.6 1350 Tròn, hơi thuôn dài (C. sasanqua) Sở Chè QB 2.0 1250 Hình cầu, đuôi tròn (C. sasanqua) Sở Chè VL 2.1 1600 Quả tròn đều, nhỏ (C. sasanqua) Sở Quýt LS 5.6 1100 Tròn, dẹt hai phía (C.
oleifera) Sở Quýt TH 4.1 1000 Tròn đều, vỏ dày (C. oleifera) Ghi chú: NĐ: Nghĩa Đàn (Nghệ An) QB: Quảng Bình VL: Vĩnh Linh (Quảng Trị) LS: Lạng Sơn TH: Thanh Hóa. Nếu hạt Du trà có độ chắc cao (nội nhũ hạt dày, hạt căng đều, vỏ hạt láng bóng…) sẽ cho trọng lượng 1000 hạt cao. Qua bảng số liệu có thể thấy trọng lượng 1000 hạt ở sở Chè cao hơn so với sở Quýt.
Thực tế cho thấy không phải kích thước hạt lớn hay nhỏ mà chính do độ đầy đặn của nội nhũ hay độ chắc của hạt quyết định đến trọng lượng 1000 hạt. Thu hoạch là khâu quan trọng trong phát triển kinh tế trồng rừng Du trà, thu hoạch đúng thời vụ, bảo quản tốt sau thu hoạch và chế biến kịp thời sẽ đem lại năng suất và chất lượng thành phẩm từ hạt một cách rõ rệt. Mùa thu 12 hoạch hạt Du trà thường từ tháng 9 đến tháng 10 hàng năm. Trong quá trình chín, vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng và khi chuyển thành màu vàng nâu là có thể thu hái được.
Thu hái ngay trên cây là tốt nhất. Nếu thu hái trên cây, quả đem về phải phơi nắng (khoảng 4-5 nắng) để hạt tự tách ra. Hoặc có thể thu được hạt bằng cách dọn sạch dưới tán cây, đào rãnh 30x30 cm theo đường đồng mức, quả chín rụng hạt rồi thu nhặt. 2: Hạt Camellia sp.
(12/2005) Hạt thu về cần được phơi nắng khoảng 5-6 nắng trên nền ximăng là tốt nhất để đạt tới hàm ẩm còn khoảng 10%. Sàng loại bỏ tạp và đóng bao, bảo quản nơi khô mát để đảm bảo chất lượng dầu ép cũng như thành phần của bã ép [12]. 2: Kết quả phân tích hạt Du trà và chất lượng dầu Du trà [8] Hạt Hàm Hàm Độ chiết Chỉ số Iod (*) Tỷ Chỉ số xà Mẫu hạt Vỏ Nhân lượng ẩm quang (mgI 2 /g trọng phòng hóa (%) (%) dầu (%) (%) 15 oC dầu) Du trà Việt Nam 35.5 189 Du trà Trung Quốc 39.6 187 13 (*) : Hạt thu từ một số cây Du trà 4.5 tuổi trồng tại Hậu Lộc, Thanh Hóa. Hàm lượng dầu trong hạt Du trà là rất cao (khoảng 40% đến 50%) so với trong đậu tương chỉ khoảng 20%.
Dầu từ các loài Camellia được đánh giá có chất lượng không kém dầu ôliu và có thành phần chất béo chủ yếu là axít oleic chiếm hơn 88% [31]. Chính vì vậy, từ trước đến nay, chủ yếu người ta quan tâm tới việc ép hạt thu lấy dầu rồi xử lý làm dầu ăn thực vật hoặc ứng dụng trong công nghiệp sơn, công nghiệp mỹ phẩm. Nó cũng là loại dầu ăn chính của người dân các tỉnh miền nam Trung Quốc như ở Hoa Nam, hơn 50% dầu thực vật sử dụng là từ Camellia. Có tác giả đã xác định được trong dầu Du trà thuộc loài C.
oleifera Abel có một lượng chất sesamin (CTPT: C 20 H 18 O 6 ) thuộc nhóm lignan, một nhóm chất được coi là phytoestrogene. Hirose và cộng sự (1991), Hirata và cộng sự (1996) chứng minh in vitro và in vivo rằng sesamin có hoạt tính chống ôxy hóa, ngăn chặn sự hình thành của gốc tự do, tăng cường trao đổi lipid, làm giảm cholesterol có tác dụng tốt cho hoạt động của tim [24]. 3: Khô dầu hạt Camellia sp.