Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá. Đất gắn bó mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các sinh vật nói chung, của con người nói riêng. Nó là điều kiện cần và cơ bản nhất cho quá trình tồn tại và phát triển. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng của mỗi Quốc gia.
Đất đai là sản phẩm tự nhiên, lao động con người không thể tạo ra đất đai và đất đai có giới hạn về không gian và số lượng, cố định về vị trí. Chính vì các đặc tính đặc biệt đó mà đất đai trở thành đối tượng của các cuộc tranh chấp, khiếu kiện. Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của đất đai, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm và đưa ra nhiều chủ trương chính sách pháp luật để quản lý chặt chẽ, khai thác có hiệu quả quỹ đất đai. Việc ban hành các quy định pháp luật về đất đai cũng là cơ sở để thực hiện quyền lực và ý chí của Nhà nước, là căn cứ đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho người sử dụng đất.
Từ khi quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà trở thành một đối tượng của giao lưu dân sự, người dân không chỉ có quyền sử dụng đất mà còn có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất, thì các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu nhà, và đặc biệt là quyền sử dụng đất cũng hết sức đa dạng và phong phú. Ở nước ta hiện nay khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp. Việc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo không được nhiều hoặc có giải quyết nhưng chưa dứt điểm, còn chậm, chưa đủ mạnh, số vụ phát sinh nhiều, số vụ được giải quyết hiệu quả chưa cao dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp ngày h 2 càng tăng và ngày càng gay gắt. Do đó việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trở thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội, được nhiều ngành nhiều cấp quan tâm.
Trên địa bàn thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng việc các vụ tranh chấp, khiếu nai, tố cáo về đất đai ngày càng nhiều. Đây là những nguyên nhân tiềm ẩn của các nguy cơ gây bất ổn an ninh chính trị, trật tự xã hội. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2015 – 2017”. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu tổng quát Đánh giá thực trạng và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai trong quản lý trên địa bàn thành phố Cao Bằng giai đoạn 2015-2017. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai tại thành phố Cao Bằng - Đánh giá tình hình thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn thành phố Cao Bằng - Làm rõ những tồn tại hạn chế trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai và Bài học kinh nghiệm 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học -Nghiên cứu quy trình, trình tự thủ tục công tác tiếp dân, xử lý đơn thư giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai.
Ý nghĩa thực tiễn - Khóa luận tốt nghiệp là một cơ hội tốt cho em củng cố kiến thức đã học trong nhà trường và áp dụng trong thực tế công việc. h 3 - Khóa luận giúp em nắm được thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai đặc biệt là công tác giải quyết tranh chấp đất đai. - Khóa luận góp phần đề xuất các giải pháp thực hiện công tác giải quyết tranh chấp đất đai để công tác giải quyết tranh chấp đất đai ngày càng hiệu quả hơn. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm đất đai của Việt Nam Việt Nam là nước thuần nông, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Trên thực tế hiện nay đất đai hết sức manh mún, nhỏ lẻ, nhiều đồi núi, đồng bằng nhỏ hẹp, đất đai kém màu mỡ, với nền sản xuất lạc hậu làm cho năng suất, sản lượng nông nghiệp thấp. Trong một thời gian dài Nhà nước ta sản xuất theo kế hoạch, xây dựng một nền kinh tế bao cấp đã làm lãng phí nguồn tài nguyên quý giá này.
Chính vì vậy để việc phân bố đất đai phù hợp với điều kiện, tập quán sinh hoạt và đảm bảo nhu cầu của cuộc sống là việc cấp thiết. Sau khi miền Bắc giải phóng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật cải cách ruộng đất năm 1953 và các văn bản luật đất đai nhằm đảm bảo cho nhân dân lao động có chỗ ở và có đất để sản xuất. Đến Luật đất đai năm 1988 ra đời đã làm thay đổi rất nhiều trong công tác quản lý đất đai. Tuy nhiên trong thời gian này việc quy định và đảm bảo các quyền cho người sử dụng đất còn rất hạn chế.
Để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, luật đất đai 1993, Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013 ra đời từ đó công tác quản lý đất đai trong cả nước dần dần đi vào quy củ, quyền lợi, nghĩa vụ của người sử dụng đất ngày càng được mở rộng, việc khai thác các tiềm năng từ đất ngày càng được người dân chú trọng nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất một cách tối đa. Quan hệ pháp luật về đất đai Việt Nam qua các thời kỳ Quan hệ đất đai ở đây thực chất là mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sử dụng đất. Tuy nhiên mối quan hệ này phải dựa trên các quy định của pháp luật về đất đai do Nhà nước ta ban hành gọi là quan hệ pháp luật về đất đai. h 5 Ngay từ ngày dành độc lập năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm ngay tới việc quản lý và sử dụng các loại đất.
Với sự ra đời của Luật đất đai 1988, Luật đất đai 1993, Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013 cùng với sự thay đổi liên tục nhằm hoàn thiện đời sống về đất đai cũng như các đời sống khác để phát triển, đổi mới đất nước và để phù hợp với tình hình thực tế về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị nên đã phát sinh ra nhiều môi trường trong quan hệ đất đai. Các mâu thuẫn đó thể hiện thông qua các vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai. Tính phức tạp của tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai kéo dài không chỉ bắt nguồn từ những xung đột gay gắt về lợi ích kinh tế, của sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan công quyền sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách pháp luật đất đai mà còn do nhiều nguyên nhân có tính lịch sử trong quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ. Trong những năm gần đây, tình hình tranh chấp của công dân trong lĩnh vực đất đai diễn ra gay gắt, phức tạp ở hầu hết các địa phương trong cả nước, nhiều nơi đã trở thành điểm nóng.
Số lượng đơn vượt cấp gửi đến các cơ quan ở Trung ương nhiều, nội dung thể hiện tính bức xúc gay gắt, không chấp nhận với cách giải quyết của chính quyền địa phương. Số lượng công dân đến khiếu nại trực tiếp tại phòng tiếp công dân của các địa phương, các cơ quan có xu hướng gia tăng, nội dung đơn tập trung nhiều vào các nội dung về lấn chiếm đất, đòi lại đất, ranh giới đất, về quyền sử dụng đất… Tình hình trên nếu không được xử lý kịp thời sẽ rất phức tạp, gây tâm lý hoang mang, thiếu tin tưởng vào chính quyền, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và lợi ích quốc gia. Căn cứ pháp lý - Luật Đất đai (2013), NXB Bản đồ, Hà Nội; - Nghị định 43/2014/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai (Có hiệu lực từ 01/07/2014) ; h 6 - Nghị định số 102/2014/NĐ-CP, của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (Có hiệu lực từ 25/12/2014); -Thông tư 02/2015/TT-BTNMT hướng dẫn Nghị định 43/2014/NĐ- CP (Hiệu lực 13/3/2015); - Luật khiếu nại năm 2011; - Luật tố cáo năm 2011; - Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo; Thực hiện Luật đất đai năm 2013, Nghị định số số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và các Thông tư hướng dẫn thi hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường. UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành các văn bản quy định, cụ thể hóa các văn bản của Nhà nước và của Bộ Tài nguyên Môi trường về công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh, nhằm hướng dẫn và chỉ đạo chặt chẽ các địa phương trong tỉnh thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng đất đai, quản lý tài nguyên và môi trường trên địa bàn.