Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giói thiệu về họ Mai (Ochnaceae) Họ Mai (danh pháp khoa học Ochnaceae) là họ thực vật có nguồn gốc từ cây hoang dã, chủ yếu là các cây thân gỗ và thân bụi, bao gồm 27 chi vả khoảng 495 loài tùy theo hệ thống phân loại. Chúng được tìm thấy tại các khu rừng cận rứũệ*. dời và nhiệt đới, đặc biệt là các khu rừng Nam Mỹ.
Chi lớn nhất là Ouratea (bao gom G.mphia) với khoảng 200 loài. Các chi mai sống ở các khu rừng nhiệt đới châu Phi 2. chiu Á dược phát hiện gần 90 loài phong phú và đa dạng. Ochnaceae là một họ của thực vật có hoa Bộ Malpighiales (Bộ S3' ri I.
Trong hệ thống phân loại APGIII (2009) của thực vật có hoa, họ Ochnaceae dược đỉnh nghĩa bao quát, khoảng 550 loài, bao gồm hệ thống phân loại riêng lẻ của họ Medusagynaceae và họ Quiinaceae (thực vật hạt kín), nhưng đến APG IV (2016) điều này không được chấp nhận. Theo APG, họ Mai được xếp vào nhóm lớn Ochnoidae được mô tà như sau: Lá có 2 tầng, khoang trong vách mạch (nhu mô) không khép một bên. Bộ nhụy phát triển hướng tấm, từ 2 - 10 nhụy, cuống nhụy ngắn, vòi nhụy nở, đế hoa nở rộng. Hoa một noãn, quả hạch, không nứt (A.
Allantospermum và ctv, 2016). Những loài trong họ này có lá mọc so le, lá đom với những đường gàn bèn song song nhưng có một số loài lá mọc thành chùm, chùy hay có dạng lông chim, điển hình ở chi Godoya. Các loài mai cây bụi, điển hình như mai tứ quý (Ochna multựlorà) cày cao đến 1,5 m với lá thường xanh. Một số loài mai được dùng làm cây kiểng.
Hoa mai tại Việt Nam mọc phổ biến ở miền Trung và miền Nam, đa sổ đều là mai rừng tự nhiên. Hoa có 5 cánh với lá đài, màu sắc sặc sỡ, nhụy nhiều và dày, thường mọc thành chùm và hoa rậm, trái có màu đen tuyền, tuy nhiên cũng có loài đạt đến sổ lượng cánh rất cao (12 - 18 cánh). Hoa có mùi hưomg tự nhiên rất therm (Huỳnh Văn Thới, 2004). Riêng ở Việt Nam, loài mai Vàng phổ biến nhất là mai vàng 5 cánh (Ọchna integerrimà), Tuy nhiên, các nhà vườn sử dụng một sổ loại mai ghép lại với nhau và cho ra đời nhiều loại mai lai với nhiều cánh, sổ lượng cành từ hàng chục cho đến hàng trăm cánh xếp chồng lên nhau.
Hiện nay, Việt Nam có khoáng 13 loài mai khác nhau: Mai năm cánh, mai núi, mai chùy, mai dộng (mai sẻ), mai hương (mai ngự), mai chùm gửi (mai tỳ bà), Mai châu, mai liễu, mai nhọn, mai Cà Ná, mai Vĩnh Hao, mai tứ quý, và mai giảo. Nhưng chi định danh tên khoa học của hai loài mai la Ochna integerrima (Mai vàng 5 cánh hay mai núi) và Ochna serrulata (Mai tứ quý) (Huỳnh Vẫn í hói, 2004). Giói thiệu về chi Mai (Ochna) 1. Tên khoa học và vị trí của chi Mai trong hệ thống phân loại Giới (Kingdom): Plantae Thực vật Ngành (Phylum): Tracheophyta Thực vật có mạch Lớp (Class): Magnoliopsida Thực vật hai lá ~_L~ Bộ (Order): Theales Chè Họ (Family): Ochanaceae Hoàng mai Chi (Genus): Ochna Mai Ngoài chi Ochna, họ Hoàng mai Ochnaceae tổng cộng có 30 chi khác với 400 loài trên thế giới, phân bố ở vùng Nhiệt đới Nam Mỹ, chủ yếu ở Brazil.
Ở Việt Nam họ Hoàng mai chỉ có 4 chi: Euthemis, Gomphia, Indosinia, Ochna. Trong đó chi Ochna phổ biến nhất, với 2 loài Ochna integerrima (Lour. và Ochna serrulata. Tuy nhiên vần còn nhiều loài mai ở Việt Nam chưa có tên khoa học (A.
Đặc điểm hình thái chi Mai Theo một số tài liệu nghiên cứu, mai là cây thân bụi thấp (chù yểu) thuộc họ Ochnaceae, chúng có nguồn gốc từ vùng rừng nhiệt đới của châu Phi. Cây mọc hoang dại. chiều cao từ 3 - 8 m. Lá đơn, mọc đối, gân nổi cong ngược lên đặc biệt ở phần rìa, mép lá có răng cưa, màu xanh bóng.
Cụm hoa màu vàng, mọc thành chùm ở nách lá. cuống hoa nhỏ, mỏng, lá đài thường 5 cánh có màu xanh nhạt bóng, số lượng cánh hoa dao động từ 5 đến 10 cánh, mép hoa hơi xoăn, tùy các đặc điểm sinh thái khác nhau mà mồi vị trí sẽ có màu sắc hoa khác nhau. Nhị nhiều, mỏng. Nhụy hoa từ 5 - 10 bầu nhụy, mỗi múi 1 noãn.
Bao phấn mở, có 2 túi ở ngọn. Đế hoa có nhiều khía. Hầu hết, các loài trong chi mai đều có quả nhỏ màu xanh, khi chín sẽ chuyển sang màu đen xếp quanh đế hoa. (Thái Văn Thiện, 2008; Codd và ctv, 1976; A.
4 Hình thái chi Ochna Noản chi Ochna Mặt cit dọc ncăn Mặt cit vòi nhụy và hạt mai Hạt mai chi Ochna Hình 1.1 Hình thái giải phẫu hoa chi Ochna (L. Đặc điểm sinh thái của chi Mai Nơi phân bố: Châu Phi. phía Nam sa mạc Sahara, đảo Madagascar; vùng khí hậu ôn đới châu Á: Đảo Hải Nam; x ủng khí hậu nhiệt đới châu Á: Án Bộ, quần đáo Nicobar, phía Bắc bán đảo Malaysia (A.2 Vị trí phân bố của chi Ochna (http://portal.org/flora- malesiana/node/6859) - Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp nhất cho các loài mai phát triển tốt từ 25 - 35°c. Nếu trên mức thì cây mai sẽ bị cháy lá, lá mau già và có hiện tượng rụng lá sớm.
Cày phát triển chậm nhưng vẫn chịu được trong 2-3 tháng. Nếu nhiệt độ hạ thấp dưới 10°C, cây sẽ bị ức chế không phát triển, cây hút nước và chất dinh dưỡng kém đi, nụ rụng, nếu nhiệt độ dưới 15°c thì cây có hiện tưởng kéo dài thời gian nờ hoa. 2008; Trương Hoàng Giang, 2011) - Nước: Cây mai là cây chịu hạn rất tốt và có thể sinh trưởng phát triển ờ các vị trí địa lý có lượng mưa khác nhau. Tuy vậy, ở những vùng có lượng mưa nhiều, độ ẩm cao, cây mai sinh trưởng và phát triển tốt hơn (Thái Văn Thiện, 2008).
Nước có thể lấy từ các mạch nước ngầm, ao hồ, sông suối. Nồng độ pH dao dộng từ 5,0 - 7,2 không bị nhiễm chua, mặn. Những vùng có lượng mưa trung bình đạt 1.000 mm/năm rất thuận lợi cho sự sinh trường và phát triển của cây (Đặng Văn Đông và ctv, 2013). Tuy nhiên, nếu cây ngập úng trong thời gian lâu, cày sẽ bị thối rề và dễ bị chết (Thái Văn Thiện, 2008).
6 Anh sang: Đây la yêu tó quail trọng trong quá trinh sinh trường và phát triển cùa các loài mai. Thời gian nhận ánh sáng dược 6 tiêng trờ lén rnới đám bào. Những nơi thiêu ánh sáng thì cây sinh trường kém, ra hoa ít (Trương í loang (dang, 2011). - Đât: Trong tự nhiên, các loài mai không kén đất, chúng có thề phát triển ờ nhiều vị trí có tính chất đất khác nhau như: đất cát, cát pha sét, đất thịt nhẹ, dắt thịụ đất phù sa, gò đồi, đất nhiều sỏi đá.
nhưng thích hợp nhất là đất phù sa ven sóng. Độ pH đất thích hợp từ 5,5 - 7,0 cây mai vẫn có thể chịu được đất có độ phèn nhẹ.g vùng dât cao như gò đôi như vùng đôi núi miền Trung hay ở Tây Ninh có kế: hí: chu yếu là đá, sỏi, cát và mực nước ngầm thấp, cây thường phát triển rễ cọc sâu •< j c< rễ bàng. Ngược lại, ớ những khu vực mực nước ngầm cao và đất giàu chất hữu cc. rễ mai thưởng phát triển theo bê ngang, rê cọc phát triển giảm dân theo chiêu sàu Thai Văn Thiện, 2008).
Giói thiệu các loài mai trong chi Ochna 1. Giói thiệu loài Mai vàng Ochna integerrima (Lour. Mai vàng (còn gọi là Huỳnh mai) lả loài cây phổ biến ở miền Nam Việt Nam vào dịp Tết Nguyên Đán. Chúng không những có vẻ đẹp tao nhã mà còn tượng trưng cho nếp sống văn hóa lâu đời của nhân dân ta.
Mai vàng biểu trưng cho sự sung túc, may mắn và thịnh vượng mỗi dịp xuân về.3 Hoa mai Vàng Ochna integerrùna (Lour. Đây là loài cây đa niên mọc hoang dã, có thể tồn tại trèn 100 năm, do có nguồn gốc cây rừng nên gốc to, rễ lồi lõm. Thân cây cao từ 2 - 7 m màu nâu sậm, bề mặt thân sần sùi, khô ráp, cành nhánh nhiều, thon dài, dễ uon nan theo ý muốn của người trồng 7 cây. Đường kính thân 10-25 cm.
Cành thưa và có màu xám nâu (Jiang Qing Hai. Lá đơn, mọc xen kẽ, hơi thon dài. phiến lá bầu dục, dai, khóng có lóng trên bề mật, gân phụ từ 8 đên 10 cặp, mép lá có ráng cưa thấp. Lá non thường có mau xanh tươi hoặc phơn phớt hồng, lá già màu dậm và dày hơn, cuống dài 4 - 7 mm.
í loa thường mọc từ nách vệt cuông lá, ban đầu là một hoa to, còn gọi là hoa cái, có vó ỉụa bọc bên ngoài, khi vỏ lụa bung ra thì sẽ xuất hiện nhiều hoa nhỏ, từ 1 - 10 nụ nên thấy mai thường mọc thành chùm, cuống dài treo lơ lửng bên cành. Chúng tăng trưởng rất nhanh. ‘hoang 3 - 5 ngày sau là nở, nụ lớn sẽ nở trước (Phạm Hoàng Hộ, 1999). Hoa cỏ từ 5 - - cảnh hình oval, cánh hoa dài 1,3-2 cm, chiều rộng 1-1,4 cm.
Hoa màu vàng có nhiều nhị, số lượng thay dổi, có chiều cao từ 0,9 - 1,2 cm. Nhụy thường cao hơn nhị. mưng bình 1 - 1,4 cm. Dài hoa màu xanh, số lượng thay đổi từ 4 - 6 chiếc.
Nhụy hoa nẩm giữa, mang phấn nhiều, màu vàng đậm. Hạt mai non có màu xanh, khi già chuyên sang màu đen (Jiang Qing Hai, 2006). Mai vàng thường phân bố chủ yếu: quần đảo Andaman (Án Độ), khu vực khí hậu nhiệt đới châu Á: Campuchia, Lào, bán đảo Malaysia, Thái Lan và Việt Nam (A.4 Hình thái mai vàng Ochna integerrima (A. Leyden, 1971) a - Một nhánh mai có hạt; b - Cụm hoa mai; c - Nhị hoa; d - Nhụy hoa; e - Hạt mai 9 Mai vàng nhiêu cánh thường là loại mai (lo lai tạo hoặc chọn lọc tự nhiên, chọn giông cải tạo dân.
Theo ông Huỳnh Văn Thới, Mai nhiều cánh ở Việt Nam gồm có: Mai giảo Thú Đức (12 cánh tháng. 2 tầng cánh); mai 12 cánh Ben 'í re (loại hoa chùm, cánh hoa lớn hơn mai giảo Thũ Đức); mai 18 cánh Bấn Tre (3 tầng cánh, cánh hoa hơi nhỏ); mai 12-14 cánh Tư Giỏi (3 tẩng cánh); mai Cửu Long 24 cánh (3 tâng cánh); mai cúc I hủ Đức (24 cánh, 3 tầng cánh); mai BB hay mai Ba Bi (24 - 32 cánh, 3 tằng cánh), rất giông mai cúc Thủ Đức nhưng nhiều cánh và hoa to hơn; mai 24 cánh chín Đợi (hoa vàng rất to, nở thẳng); mai 48 cánh Gò Đen (5-6 tầng cánh); mai 120 - Ỉ50 cánh Ben 1 re (rât nhiều tầng cánh, giống như cúc Mâm xôi, nở tròn, to đẹp) (Huỳnh Văn Thởi.