Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một trong những chủ trương lớn và chương trình mục tiêu quốc gia trọng điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Dưới tác động của công cuộc đổi mới kinh tế, đời sống của người dân đã có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tình trạng phân hóa giàu nghèo và nguy cơ tái nghèo vẫn diễn ra phức tạp, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và các địa bàn biên giới.

Tại xã An Thạnh, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh – một xã thuần nông nằm ven tuyến Quốc lộ 22B và tiếp giáp khu vực kinh tế cửa khẩu Mộc Bài – nền sản xuất nông nghiệp vẫn còn quy mô nhỏ, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ và thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi biến đổi thời tiết, khô hạn trong mùa khô và ngập úng trong mùa mưa. Bên cạnh đó, việc chuyển dịch đất đai cho các khu kinh tế và tốc độ đô thị hóa đã đặt ra thách thức lớn đối với sinh kế của nông dân thiếu đất sản xuất.

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Phát triển Nông thôn & Khuyến nông của tác giả Trần Tấn Đạt tập trung giải quyết 2 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Tình hình nghèo đói ở xã An Thạnh diễn ra như thế nào trong giai đoạn 2002–2006?
  2. Công tác thực hiện xóa đói giảm nghèo tại địa phương đã được triển khai và mang lại hiệu quả thực tế ra sao?

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài bao gồm:

  1. Mô tả thực trạng nghèo đói, nhận diện hộ nghèo thực sự và phân tích các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tại địa phương.
  2. Tìm hiểu quá trình tổ chức và thực thi các chính sách, hoạt động trong chương trình XĐGN tại xã An Thạnh.
  3. Đánh giá những mặt mạnh đạt được và các hạn chế, tồn tại của công tác XĐGN ở cấp cơ sở.
  4. Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm khắc phục các hạn chế, nâng cao hiệu quả trợ giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình kinh tế - xã hội của các hộ nghèo, hộ thoát nghèo và các hoạt động can thiệp thuộc chương trình XĐGN.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực địa trên địa bàn 3 ấp gồm ấp Bến, ấp Chánh và ấp Voi thuộc xã An Thạnh, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2002–2006; số liệu sơ cấp được điều tra khảo sát trong thời gian thực hiện đề tài từ ngày 25/06/2007 đến ngày 25/10/2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Tác giả tiếp cận vấn đề nghèo đói dựa trên các khái niệm chuẩn mực quốc tế và quy định pháp lý của Việt Nam:

  • Định nghĩa của ESCAP (Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương, 2003): Đói nghèo là tình trạng trong đó các nhu cầu thiết yếu của bộ phận dân cư không được thỏa mãn theo chuẩn mực xã hội thừa nhận, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán từng vùng.
  • Phân loại đói nghèo: Phân biệt rành mạch giữa Đói (đói kinh niên, đói gay gắt cần cứu trợ khẩn cấp) và Nghèo (nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối).
  • Chuẩn nghèo theo tiêu chí Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (giai đoạn 2006–2010): Áp dụng mức thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn đồng bằng từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo theo chuẩn Trung ương; phân định các mức chuẩn nghèo địa phương và hộ cận nghèo liền kề.
  • Hệ tiêu chí đánh giá nghèo đa chiều cấp cơ sở: Đánh giá thông qua 4 tiêu chí cụ thể: thu nhập, nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, tư liệu sản xuất, và nguồn vốn/trình độ văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Đề tài kết hợp giữa phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết 5 năm của Ban chỉ đạo XĐGN xã An Thạnh, tài liệu từ Phòng Thống kê huyện Bến Cầu và các nghiên cứu khoa học liên quan.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi cấu trúc đóng - mở đối với mẫu khảo sát gồm 65 hộ gia đình (trên tổng số 320 hộ nghèo của xã năm 2006). Cấu trúc mẫu gồm:
    • 38 hộ nghèo (chọn mẫu ngẫu nhiên có chọn lọc).
    • 27 hộ đã thoát nghèo (chọn mẫu có chọn lọc để so sánh đối chứng).
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tổ thống kê, phân tích so sánh tỷ lệ, tính toán cân đối thu chi quỹ hộ gia đình và tổng hợp số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel.

Các công thức kinh tế hộ được sử dụng: $$\text{Doanh thu} = \text{Sản lượng (kg)} \times \text{Đơn giá (đồng/kg)}$$ $$\text{Tổng chi phí} = \text{Chi phí vật chất (CPVC)} + \text{Chi phí lao động (CPLĐ)}$$ $$\text{Thu nhập} = \text{Doanh thu} - \text{CPVC mua ngoài} - \text{CPLĐ thuê ngoài}$$ $$\text{Thu nhập bình quân đầu người} = \frac{\text{Tổng thu nhập của hộ}}{\text{Tổng số nhân khẩu}}$$


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Đặt vấn đề

Chương này khẳng định tầm quan trọng mang tính chiến lược của chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội. Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc đánh giá thực trạng nghèo tại xã An Thạnh, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi không gian tại 3 ấp (Bến, Chánh, Voi), phạm vi thời gian (2002–2006) và phác thảo cấu trúc tổng thể gồm 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Tổng quan địa bàn và chương trình xóa đói giảm nghèo

Chương 2 phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã An Thạnh và tổng quan hoạt động của Ban chỉ đạo XĐGN xã:

  • Tự nhiên và đất đai: Tổng diện tích tự nhiên là 2.502,05 ha; đất nông nghiệp chiếm 2.167,32 ha (86,62%), gồm đất trồng cây hàng năm (1.762,47 ha) và cây lâu năm (164,72 ha). Nhóm đất chính gồm đất xám và đất phèn (đất phèn hoạt động trên nền tiềm tàng chiếm 621 ha, tương đương 24,82%). Hệ thống thủy văn phụ thuộc sông Vàm Cỏ Đông (dài 8 km qua xã), rạch Gò Xuối (7 km) và rạch Bà Vịt (2 km).
  • Kinh tế - lao động: Dân số năm 2006 là 11.682 người (2.630 hộ). Tổng lực lượng lao động là 6.416 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 77,36% (4.963 người), lao động phi nông nghiệp chiếm 5,41% (347 người), lao động đi làm nơi khác chiếm 17,23% (1.105 người). Cơ cấu đàn gia súc biến động: đàn bò tăng từ 118 con (2002) lên 412 con (2006); đàn heo tăng mạnh từ 983 con lên 5.200 con; đàn trâu giảm từ 241 con xuống 207 con.
  • Tổ chức bộ máy và hoạt động XĐGN: Ban chỉ đạo XĐGN xã do Phó Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, 2 Phó ban (Chủ tịch Hội Nông dân và Cán bộ chuyên trách) cùng các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Bí thư Đoàn thanh niên, UB Mặt trận Tổ quốc, Hội Chữ thập đỏ). Quản lý vốn ủy thác qua Ngân hàng Chính sách Xã hội theo sơ đồ liên thông từ huyện, xã, cán bộ chuyên trách đến Tổ tự quản/Trưởng ấp.
  • Kết quả hỗ trợ giai đoạn 2002–2006:
    • Tín dụng: Giai đoạn 2001–2003 giải quyết 113 lượt hộ vay với số vốn 1,899 tỷ đồng; giai đoạn 2004–2005 cho vay 264 lượt hộ nghèo với 7,613 tỷ đồng. Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm triển khai 3 dự án với 270 triệu đồng, giải quyết 152 việc làm.
    • Kỹ thuật và vật tư: Tổ chức 83 lớp tập huấn khuyến nông với 2.763 lượt người tham gia; hỗ trợ 58 tấn phân bón, giống lúa qua các năm và 380 cây điều ghép cao sản (năm 2005).
    • Y tế, giáo dục, nhà ở: Khám chữa bệnh miễn phí cho 710 lượt người, cấp 5.791 thẻ BHYT; miễn giảm học phí cho con em hộ nghèo; xây dựng 35 căn nhà đại đoàn kết (tổng kinh phí 248,35 triệu đồng).
Năm Tổng số hộ nghèo (hộ) Số hộ thoát nghèo (hộ) Tỷ lệ thoát nghèo (%)
2002 538 68 12,64
2003 432 18 4,17
2004 408 53 12,99
2005 355 37 10,42
2006 320 27 8,44

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương 3 hệ thống hóa cơ sở lý luận về đói nghèo, các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, xác lập quy trình điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích thống kê mô tả và các chỉ tiêu đánh giá tài chính nông hộ.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương này công bố và phân tích chi tiết dữ liệu khảo sát thực địa từ 65 hộ gia đình:

  • Quy mô nhân khẩu và lao động: Hộ nghèo có quy mô $\le 4$ nhân khẩu chiếm 86,42% (26 hộ). Tỷ lệ lao động chính ở hộ nghèo đạt 77,48% (117 người), người ăn theo là 22,51% (34 người), bình quân 3,4 lao động chính gánh 1 người ăn theo (ở hộ thoát nghèo là 4,6 lao động chính/1 người ăn theo).
  • Trình độ học vấn của chủ hộ: Tỷ lệ mù chữ ở chủ hộ nghèo rất cao, chiếm 44,74% (17 hộ); trình độ Cấp 1 chiếm 28,95% (11 hộ); Cấp 2 chiếm 21,05% (8 hộ); Cấp 3 chỉ chiếm 5,26% (2 hộ).
Trình độ học vấn Hộ nghèo (Số lượng) Tỷ lệ (%) Hộ thoát nghèo (Số lượng) Tỷ lệ (%)
Mù chữ 17 44,74 7 25,93
Cấp 1 11 28,95 10 29,63
Cấp 2 8 21,05 6 22,29
Cấp 3 2 5,26 4 14,81
Tổng cộng 38 100,00 27 100,00
  • Ngành nghề và tư liệu sản xuất: Trong 38 hộ nghèo, có 20 hộ làm phi nông nghiệp (52,63%) và 18 hộ làm nông nghiệp (47,37%). Đa số hộ phi nông nghiệp làm thuê thời vụ, buôn bán nhỏ không ổn định. Có tới 29/38 hộ nghèo hoàn toàn không có đất sản xuất nông nghiệp (76,32%); 8 hộ có dưới 1 ha (21,05%) và chỉ 1 hộ có từ 1–2 ha (2,63%).
  • Cân đối thu chi và sinh kế: Thu nhập bình quân của hộ nghèo đạt 178.427 đồng/người/tháng, trong khi chi tiêu bình quân là 192.304 đồng/người/tháng, dẫn đến thâm hụt ngân quỹ bình quân âm 13.877 đồng/người/tháng. Có 16/38 hộ nghèo tích lũy âm (42,11%), phải vay mượn hàng xóm (36,36%), mua nợ đại lý tạp hóa (36,36%) hoặc vay người thân (27,28%).
  • So sánh hiệu quả canh tác lúa (trên 1.000 $\text{m}^2$/năm): Nhóm 4 hộ thuê đất chỉ đạt sản lượng 986 kg/1.000 $\text{m}^2$/năm, thu nhập đạt 703.661 đồng/năm. Trong khi đó, nhóm 9 hộ có đất canh tác đạt sản lượng 1.308 kg/1.000 $\text{m}^2$/năm và thu nhập đạt 1.385.000 đồng/năm (do hộ thuê đất thiếu vốn, chi phí thuê cao và hạn chế đầu tư phân bón).
  • Đánh giá công tác thực thi chính sách:
    • Phân loại hộ nghèo: Khảo sát thu nhập thực tế cho thấy có 12 hộ dưới 200.000 đồng (31,58%), 16 hộ từ 200.000–250.000 đồng (42,11%), và 10 hộ có thu nhập trên 250.000 đồng/người/tháng (26,32%). Như vậy, có 26,32% hộ nằm trên chuẩn nghèo nhưng vẫn được đưa vào danh sách hộ nghèo của địa phương.
    • Tiếp cận tín dụng: Có 27/38 hộ được vay vốn chính sách (71,05%), 7 hộ không vay (4 hộ không có nhu cầu, 3 hộ không được vay do không có phương án sản xuất). Trong số hộ vay vốn, có 5 hộ không có khả năng trả nợ do rủi ro dịch bệnh (điển hình như hộ ông Nguyễn Văn Tước ở ấp Bến vay 2,4 triệu đồng nuôi heo bị chết dẫn đến nợ quá hạn).
    • Các chính sách hỗ trợ khác: 38/38 hộ được hỗ trợ khám chữa bệnh (100%), 33/38 hộ được cấp BHYT (86,84%); 24/24 hộ có con em đi học được miễn giảm 100% học phí; 6 hộ nghèo được xây nhà đại đoàn kết (đạt 85,71% kế hoạch khảo sát).

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu, chỉ rõ các thành tựu, các điểm hạn chế cố hữu trong khâu phân loại, tổ chức thực thi và đưa ra hệ thống kiến nghị đồng bộ cho chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Thành tựu chung của chương trình XĐGN (2002–2006): Giúp 192 lượt hộ gia đình trên địa bàn xã thoát nghèo; giảm tổng số hộ nghèo từ 538 hộ (năm 2002) xuống còn 320 hộ (năm 2006); hỗ trợ xây dựng hoàn thiện hàng chục căn nhà đại đoàn kết, xóa dần tình trạng nhà ở tạm bợ; cấp phát 5.791 lượt thẻ BHYT và giải quyết miễn giảm học phí cho 100% con em hộ nghèo.
  2. Nhận diện nguyên nhân gốc rễ của nghèo đói tại xã An Thạnh:
    • Trình độ học vấn của chủ hộ thấp, tỷ lệ mù chữ cao (44,74%), làm hạn chế khả năng tính toán, tiếp thu tiến bộ kỹ thuật và quản lý tài chính gia đình.
    • Tình trạng thiếu đất sản xuất nghiêm trọng (76,32% hộ nghèo không có đất nông nghiệp).
    • Cơ cấu lao động dịch chuyển sang phi nông nghiệp tự phát, thiếu tay nghề chuyên môn, công việc bấp bênh, phụ thuộc mùa vụ.
    • Nguồn vốn tín dụng hạn hẹp (mức vay bình quân chỉ 2,5–3 triệu đồng/hộ/chu kỳ 3 năm), chưa đáp ứng đủ quy mô đầu tư mở rộng sản xuất.
  3. Chỉ ra các sai lệch trong thực thi: Khâu điều tra, bình xét hộ nghèo tại cơ sở còn thiếu chính xác, để sót 26,32% số hộ có mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo quy định vẫn nằm trong danh sách thụ hưởng. Các chính sách hỗ trợ sản xuất (giống, kỹ thuật, khuyến nông) gần như chỉ tập trung vào nhóm nông nghiệp, hoàn toàn bỏ trống nhóm hộ nghèo làm phi nông nghiệp (chiếm 52,63% tổng số hộ nghèo).

Giải pháp và kiến nghị đề xuất của tác giả

  • Về tín dụng ưu đãi: Ngân hàng Chính sách Xã hội cần phối hợp với Ban chỉ đạo XĐGN rà soát đúng đối tượng; nâng cao hạn mức vốn vay và kéo dài thời hạn hoàn vốn; mở rộng phương thức vay tín chấp bảo lãnh; xem xét khoanh nợ và cho vay bổ sung đối với các hộ gặp rủi ro bất khả kháng nhưng có phương án sản xuất khả thi.
  • Về đào tạo và giải quyết việc làm:
    • Tiến hành phân loại đối tượng theo độ tuổi: Với lao động trẻ, tập trung phổ cập văn hóa Cấp 1, Cấp 2 và đào tạo nghề ngắn hạn để kết nối tuyển dụng vào các nhà máy, khu công nghiệp quanh khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài; hỗ trợ pháp lý trong ký kết hợp đồng lao động.
    • Với lao động lớn tuổi, tổ chức các lớp dạy nghề thủ công truyền thống tại địa phương (nghề đan lát, nghề mộc gia dụng).
  • Về khuyến nông và chuyển giao công nghệ: Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi - trồng trọt sát với nhu cầu thực tế; xây dựng các mô hình trình diễn nông nghiệp hiệu quả để người nghèo tham quan, học tập kinh nghiệm.
  • Về quản lý và bộ máy XĐGN: Nâng cao tính công khai, minh bạch trong bình xét hộ nghèo tại các ấp; xây dựng quy chế phối hợp cụ thể giữa các thành viên ban chỉ đạo; thực hiện chế độ thù lao và đào tạo nâng cao kỹ năng cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác XĐGN cấp xã/ấp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi mẫu: Đề tài chỉ khảo sát chọn mẫu 65 hộ (38 hộ nghèo, 27 hộ thoát nghèo) tập trung tại 3 ấp (Bến, Chánh, Voi) của xã An Thạnh, chưa bao quát toàn bộ các nhóm đối tượng đặc thù khác trên địa bàn huyện.
  • Hạn chế về phương pháp phân tích: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp thống kê mô tả và so sánh số học, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng (hồi quy đa biến Probit/Logit) để lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố (học vấn, diện tích đất, quy mô lao động, tín dụng) đến xác suất thoát nghèo của nông hộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn của Khu kinh tế Cửa khẩu Mộc Bài đến sự chuyển dịch đất đai và chuyển đổi sinh kế của các hộ nông dân mất đất; nghiên cứu các mô hình tín dụng vi mô kết hợp bảo hiểm nông nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi hộ nghèo.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn, Khuyến nông, Xã hội học và Quản lý công.
  • Cán bộ thực tiễn: Cán bộ chuyên trách Lao động - Thương binh và Xã hội, cán bộ Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp xã, huyện tham khảo trong việc thiết kế bảng biểu điều tra, quy trình bình xét hộ nghèo và quản lý nguồn vốn vay chính sách tại cơ sở.
  • Phần nội dung giá trị: Bảng câu hỏi phỏng vấn nông hộ chi tiết (ở phần Phụ lục) bao quát từ điều kiện sinh hoạt, đất đai, chi phí - doanh thu trồng trọt/chăn nuôi đến đánh giá các chính sách hỗ trợ; phương pháp tính toán cân đối thu chi ngân quỹ gia đình thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu tại địa bàn nào và trong khoảng thời gian nào?

Nghiên cứu được thực hiện tại 3 ấp (ấp Bến, ấp Chánh, ấp Voi) thuộc xã An Thạnh, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Dữ liệu thứ cấp tổng hợp trong giai đoạn 2002–2006 và số liệu điều tra sơ cấp được thu thập từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2007.

2. Tỷ lệ mù chữ ở các chủ hộ nghèo được khảo sát là bao nhiêu?

Theo kết quả điều tra thực địa tại Bảng 4.3 của khóa luận, tỷ lệ chủ hộ nghèo bị mù chữ lên tới 44,74% (17/38 hộ), cao hơn nhiều so với nhóm hộ thoát nghèo (25,93%). Đây được xác định là một trong những rào cản chính hạn chế khả năng áp dụng kỹ thuật và tính toán làm ăn của người nghèo.

3. Tình trạng đất sản xuất của các hộ nghèo tại xã An Thạnh như thế nào?

Có tới 76,32% số hộ nghèo được khảo sát (29/38 hộ) hoàn toàn không có đất sản xuất nông nghiệp; 21,05% hộ có diện tích dưới 1 ha và chỉ 2,63% có từ 1–2 ha. Việc thiếu đất buộc hơn một nửa số hộ nghèo phải chuyển sang làm các công việc phi nông nghiệp mang tính thời vụ, thu nhập thấp và bấp bênh.

4. Khóa luận phát hiện những sai lệch gì trong công tác bình xét hộ nghèo tại địa phương?

Kết quả phân tích thu nhập thực tế (Bảng 4.12) chỉ ra rằng có 26,32% số hộ (10/38 hộ) có mức thu nhập bình quân đầu người trên 250.000 đồng/tháng (vượt chuẩn nghèo nông thôn 200.000 đồng/tháng giai đoạn 2006–2010) nhưng vẫn được địa phương xếp vào danh sách hộ nghèo. Đồng thời, các chương trình hỗ trợ sinh kế chỉ tập trung cho sản xuất nông nghiệp mà bỏ quên nhóm hộ nghèo làm nghề phi nông nghiệp.

5. Kết quả sản xuất lúa giữa hộ nghèo thuê đất và hộ nghèo có đất chênh lệch ra sao?

Khảo sát trên 1.000 $\text{m}^2$/năm cho thấy hộ thuê đất chỉ đạt sản lượng 986 kg và thu nhập thuần 703.661 đồng, trong khi hộ có đất đạt sản lượng 1.308 kg và thu nhập thuần 1.385.000 đồng. Sự chênh lệch này do hộ thuê đất thiếu vốn, chi phí thuê đất cao và mức đầu tư vật tư kỹ thuật hạn chế.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Tấn Đạt đã phản ánh bức tranh thực tế về công tác xóa đói giảm nghèo tại xã An Thạnh, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2002–2006. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù các chính sách tín dụng, y tế, giáo dục và nhà ở đã giúp 192 hộ thoát nghèo, công tác thực thi tại cơ sở vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn như tỷ lệ mù chữ cao, tình trạng thiếu đất canh tác nghiêm trọng, bình xét sai đối tượng và thiếu chính sách trợ giúp lao động phi nông nghiệp. Các giải pháp đề xuất về phân loại đối tượng vay vốn, đào tạo nghề kết nối doanh nghiệp khu kinh tế cửa khẩu và phổ cập văn hóa mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý an sinh xã hội tại địa phương.