Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên nước mặt đóng vai trò cốt lõi trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và cân bằng sinh thái tại khu vực miền núi phía Bắc. Tỉnh Yên Bái sở hữu nguồn tài nguyên nước mặt phong phú với lượng nước bình quân đầu người đạt khoảng 10.180 m3/người/năm, cao hơn gấp 2 lần mức trung bình của khu vực Đông Nam Á. Tổng lượng dòng chảy nội địa sinh ra trên địa bàn đạt 8,47 tỷ m3/năm, đồng thời mỗi năm tiếp nhận trung bình 24,3 tỷ m3 nước từ các hệ thống sông liên tỉnh và xuyên biên giới. Mặc dù có tiềm năng thủy văn vượt trội, địa phương đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng về tính bất ổn định của dòng chảy theo mùa, nguy cơ suy thoái cục bộ chất lượng nước và tổn thất hạ tầng do thiên tai.

Giai đoạn 2017 - 2022 chứng kiến diễn biến thời tiết cực đoan gia tăng rõ rệt với 22 đợt thiên tai trong năm 2022 gây thiệt hại ước tính 161,4 tỷ đồng và trận lũ quét lịch sử năm 2017 làm thiệt hại trên 1.000 tỷ đồng. Bên cạnh áp lực tự nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt 7,11% vào năm 2022 cùng sự gia tăng của 319 doanh nghiệp mới đã làm phát sinh lượng lớn nước thải chưa qua xử lý triệt để đổ vào các lưu vực sông suối.

Nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện công tác quản lý tài nguyên nước mặt trên phạm vi toàn tỉnh Yên Bái trong mốc thời gian 6 năm từ năm 2017 đến năm 2022. Đề tài hướng tới mục tiêu làm rõ hiện trạng phân bổ, khai thác nguồn nước, phân tích kết quả thực thi 148 giấy phép tài nguyên nước và nhận diện các rào cản thể chế. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, đóng góp hệ thống số liệu định lượng phục vụ cơ quan quản lý ban hành các quyết sách tối ưu hóa nguồn lực tài nguyên nước, bảo đảm an ninh nguồn nước sinh hoạt cho hơn 831.586 cư dân và thúc đẩy phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM), tiếp cận theo mô hình của Savannije nhằm bảo đảm sự cân bằng tối ưu giữa các hợp phần: quản lý tài nguyên (WRM), hệ thống tài nguyên (WRS), đối tượng sử dụng nước (WU), phát triển kinh tế xã hội (SED) và bảo vệ môi trường (E). Song song đó, đề tài kết hợp lý thuyết phân cấp quản lý theo địa giới hành chính và quản lý theo lưu vực sông, giải quyết bài toán giao thoa quyền hạn giữa chính quyền địa phương và các quy chế liên tỉnh.

Khung pháp lý của đề tài dựa trên Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13, Nghị định số 201/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước, Nghị định số 43/2015/NĐ-CP về lập và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước, cùng Quyết định số 1308/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa bao gồm: tài nguyên nước mặt, ô nhiễm nguồn nước theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, và chỉ số tải lượng khai thác bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng đa dạng các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập bài bản. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm báo cáo hiện trạng môi trường từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái, Niên giám thống kê giai đoạn 2017 - 2022, chuỗi số liệu thủy văn từ Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Yên Bái và kết quả quan trắc định kỳ tại 34 trạm đo trên các sông chính, suối nhánh và hồ chứa.

Đối với dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi khảo sát nhận thức cộng đồng về sử dụng nước tiết kiệm và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định là 400 người dân, tính toán khoa học thông qua công thức Slovin với tổng dân số toàn tỉnh N = 831.586 người và biên độ sai số chấp nhận được e = 5% ở độ tin cậy 95%. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được triển khai tại 9 đơn vị hành chính cấp huyện, tiêu biểu như huyện Yên Bình với 57 phiếu khảo sát, thành phố Yên Bái 51 phiếu khảo sát và huyện Lục Yên 52 phiếu khảo sát, bảo đảm tính đại diện địa bàn.

Phương pháp ma trận SWOT được lựa chọn để phân tích có hệ thống các điểm mạnh, điểm yếu nội tại kết hợp cơ hội, thách thức ngoại cảnh của công tác quản lý nhà nước. Việc xử lý, thống kê mô tả và tương quan dữ liệu thực hiện hoàn toàn trên phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan của các chỉ tiêu hóa lý thực nghiệm, đồng thời lượng hóa được đánh giá định tính từ phía cơ quan quản lý và cộng đồng dân cư trong suốt timeline nghiên cứu 2017 - 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống công trình khai thác nước phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái có quy mô phân tán lớn. Toàn tỉnh ghi nhận 2.401 công trình thủy lợi khai thác nước mặt với tổng lưu lượng sử dụng đạt khoảng 359,55 triệu m3/năm. Trong đó, cơ cấu sử dụng nước nghiêng mạnh về ngành trồng trọt với 309,66 triệu m3/năm (chiếm 86,12%), nuôi trồng thủy sản chiếm 40,12 triệu m3/năm (chiếm 11,16%), và chăn nuôi tiêu thụ 9,77 triệu m3/năm (chiếm 2,72%). Đáng chú ý, các công trình nhỏ dạng đập dâng chiếm ưu thế tuyệt đối với 2.224 công trình (tương đương 92,63%), trong khi hệ thống hồ chứa dung tích lớn trên 50.000 m3 chỉ có 140 công trình (chiếm 5,83%) và 37 trạm bơm (chiếm 1,54%).

Thứ hai, tiềm năng thủy điện được khai thác mạnh mẽ nhưng đặt ra thách thức điều tiết dòng chảy. Đến năm 2022, tỉnh có 25 nhà máy thủy điện vận hành với tổng công suất lắp máy đạt 516,9 MW. Nhà máy thủy điện Thác Bà trên sông Chảy sở hữu công suất lớn nhất đạt 120 MW cùng dung tích hồ chứa lên tới 2.940 triệu m3, kế tiếp là thủy điện Văn Chấn công suất 57 MW trên Ngòi Thia. Đa số 23 nhà máy còn lại có quy mô vừa và nhỏ với công suất dưới 50 MW, tập trung mật độ cao trên các phụ lưu suối dốc như Nậm Kim, Ngòi Hút và Ngòi Thia.

Thứ ba, công tác cấp phép và giám sát tài nguyên nước được duy trì nền nếp nhưng hoạt động hậu kiểm còn giới hạn. Giai đoạn 2017 - 2022, Sở Tài nguyên và Môi trường đã thẩm định và cấp 148 giấy phép, bao gồm 71 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, 52 giấy phép khai thác sử dụng nước mặt, và 25 giấy phép thăm dò, khai thác nước dưới đất. Trong cả giai đoạn không có giấy phép nào bị thu hồi (tỷ lệ 0%), phản ánh mức độ tuân thủ quy trình hành chính ban đầu tốt nhưng đòi hỏi giám sát xả thải thường xuyên hơn.

Thứ tư, chất lượng môi trường nước mặt tại 34 vị trí quan trắc nhìn chung duy trì ở mức đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1 và A2, song vẫn tồn tại hiện tượng ô nhiễm hữu cơ cục bộ. Năm 2021, chỉ tiêu nhu cầu oxy hóa học (COD) tại điểm NM20 trên sông Hồng đạt 44 mg/L và điểm NM2 suối Ngòi Lâu đạt 44 mg/L, vượt giới hạn cho phép quy chuẩn B1 (30 mg/L) do tiếp nhận nước thải chế biến lâm sản và giấy đế. Nhờ tăng cường kiểm soát, đến năm 2022, thông số COD tại các trạm này đã giảm mạnh xuống mức 17,5 - 24,6 mg/L, đạt tiêu chuẩn an toàn cho mục đích tưới tiêu và cấp nước.

Thảo luận kết quả

Sự phân bổ dòng chảy theo mùa tại Yên Bái có tính dị biệt cực đoan giữa mùa lũ và mùa kiệt. Dữ liệu phân phối lưu lượng có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ đường xu hướng kết hợp biểu đồ cột thể hiện 5 trạm thủy văn chính: Yên Bái, Ngòi Thia, Ngòi Hút, Mù Cang Chải và Thác Bà. Tổng lưu lượng dòng chảy mùa lũ (từ tháng 6 đến tháng 10) chiếm trên 60% tổng lượng dòng chảy cả năm, với đỉnh lũ rơi vào tháng 8 đạt tổng lưu lượng 2.395,35 m3/s tại các trạm. Ngược lại, mùa kiệt kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm dưới 40% lượng dòng chảy, trong đó tháng 3 ghi nhận mức dòng chảy thấp nhất chỉ 345,06 m3/s.

Nguyên nhân của sự chênh lệch này bắt nguồn từ cấu trúc địa hình đồi núi hiểm trở với hơn 55,58% diện tích tự nhiên có độ dốc trên 25 độ, làm gia tăng tốc độ tập trung dòng chảy trong mùa mưa và gây cạn kiệt nhanh chóng vào mùa khô. Khi so sánh với dữ liệu toàn quốc, khả năng tự chủ nguồn nước của Yên Bái chịu áp lực lớn từ bên ngoài khi sông Thao tiếp nhận tới 19 tỷ m3/năm từ thượng nguồn tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và sông Chảy nhận 5,3 tỷ m3/năm từ Hà Giang.

Một bảng đối chiếu đa thông số giữa các năm cho thấy các điểm đen ô nhiễm trước đây quanh khu vực nhà máy giấy Đông Mậu hay cụm công nghiệp Đầm Hồng đã được cải thiện rõ rệt, chỉ tiêu tổng chất rắn lơ lửng (TSS) giảm từ mức đỉnh 86 mg/L năm 2021 xuống dưới 29 mg/L năm 2022. Tuy nhiên, việc cung cấp nước sạch đô thị đạt 88% và nông thôn đạt 93% nước hợp vệ sinh vẫn tiềm ẩn rủi ro khi có tới 30% trong tổng số 350 công trình cấp nước nông thôn tập trung hoạt động ở mức kém và 10,61% công trình đã ngừng hoạt động.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện phân vùng chức năng nguồn nước và cắm mốc hành lang bảo vệ. Sở Tài nguyên và Môi trường cần chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân 9 huyện, thị xã, thành phố hoàn thành cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ nguồn nước cho 100% các hồ chứa có dung tích trên 50.000 m3 và 25 công trình thủy điện trước quý IV năm 2025.

Thứ hai, thiết lập mạng lưới quan trắc tự động và chuyển đổi số quản lý dữ liệu thủy văn. Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái cần bố trí ngân sách đầu tư lắp đặt tối thiểu 10 trạm quan trắc tự động liên tục truyền dữ liệu trực tuyến về trung tâm điều hành tại các vị trí nhạy cảm như hạ lưu hồ Thác Bà, cửa xả khu công nghiệp phía Nam và các phụ lưu Ngòi Thia, hoàn thành giai đoạn 2024 - 2026.

Thứ ba, nâng cấp hạ tầng thu gom xử lý nước thải sinh hoạt và kiểm soát chất thải công nghiệp. Sở Xây dựng và Ban Quản lý các Khu công nghiệp cần đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thu gom, xử lý nước thải đô thị tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật lên 60% vào năm 2030, đồng thời bắt buộc 100% cơ sở sản xuất giấy, tinh bột sắn, chế biến khoáng sản phải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động trước năm 2025.

Thứ tư, siết chặt công tác thanh tra liên ngành và phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn. Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp Chi cục Kiểm lâm tăng cường kiểm tra định kỳ 50 - 70 cơ sở khai thác nước hàng năm, áp dụng mức xử phạt nghiêm khắc theo Nghị định số 33/2017/NĐ-CP, kết hợp duy trì độ che phủ rừng trên 689.267 ha đất tự nhiên nhằm giảm thiểu 30% nguy cơ sạt lở bờ sông và bồi lắng lòng hồ giai đoạn 2024 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Yên Bái cùng Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng về 2.401 công trình thủy lợi và hiện trạng 148 giấy phép để hoạch định quy hoạch tài nguyên nước cấp tỉnh đến năm 2030.

Nhóm doanh nghiệp khai thác thủy điện, cấp nước sạch và sản xuất công nghiệp, tiêu biểu như Nhà máy Thủy điện Thác Bà công suất 120 MW và các công ty cấp nước đô thị. Luận văn mang lại các căn cứ thủy văn thực tế giúp tối ưu hóa quy trình vận hành liên hồ chứa và nâng cao hiệu quả trạm cấp nước 25.000 m3/ngày đêm.

Nhóm viện nghiên cứu, trường đại học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường. Đề tài đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp công thức Slovin chọn mẫu n = 400 và ma trận SWOT trong đánh giá thủy vực miền núi.

Nhóm các tổ chức phát triển quốc tế và tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực biến đổi khí hậu và an ninh nguồn nước. Kết quả nghiên cứu về 22 đợt thiên tai và đặc trưng phân phối dòng chảy lưu vực sông Thao, sông Chảy là cơ sở xây dựng các dự án tài trợ quản lý lưu vực xuyên biên giới.

Câu hỏi thường gặp

Trữ lượng tài nguyên nước mặt tại tỉnh Yên Bái có đáp ứng đủ nhu cầu phát triển không?

Nguồn nước mặt Yên Bái rất phong phú với tổng dòng chảy nội địa sinh ra đạt 8,47 tỷ m3/năm cùng lượng nước bình quân 10.180 m3/người/năm. Tuy nhiên, nước phân bố rất không đều theo mùa, trong đó mùa kiệt từ tháng 11 đến tháng 4 chỉ chiếm dưới 40% tổng dòng chảy năm, gây ra tình trạng thiếu nước cục bộ tại một số vùng cao.

Ngành nào tiêu thụ nhiều tài nguyên nước mặt nhất trên địa bàn tỉnh Yên Bái?

Ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng khai thác nước mặt lớn nhất với tổng khối lượng 359,55 triệu m3/năm qua 2.401 công trình thủy lợi. Riêng hoạt động trồng trọt đã tiêu thụ 309,66 triệu m3/năm (chiếm 86,12% tổng lượng nước nông nghiệp), tiếp đến là ngành nuôi trồng thủy sản tiêu thụ 40,12 triệu m3/năm.

Diễn biến chất lượng nước mặt giai đoạn 2017 - 2022 có dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng không?

Nhìn chung chất lượng nước mặt tại 34 điểm quan trắc đạt quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1 và A2. Năm 2021 có hiện tượng ô nhiễm hữu cơ cục bộ tại các điểm xả thải nhà máy giấy với chỉ số COD đạt 44 - 52 mg/L, nhưng sang năm 2022 đã được kiểm soát tốt, đưa thông số COD hạ xuống dưới 25 mg/L.

Quy mô mẫu khảo sát trong nghiên cứu được lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học nào?

Quy mô mẫu khảo sát gồm 400 người dân được tính toán chính xác bằng công thức Slovin dựa trên tổng dân số toàn tỉnh Yên Bái là 831.586 người, với sai số e = 5% và độ tin cậy 95%. Số lượng mẫu được phân bổ ngẫu nhiên theo tỷ lệ dân cư tại 9 huyện, thị xã, thành phố để đảm bảo tính đại diện.

Vai trò cấp nước của hồ Thác Bà đối với tỉnh Yên Bái được thể hiện như thế nào?

Hồ Thác Bà có dung tích 2,94 tỷ m3, diện tích mặt nước trên 19.000 ha, giữ vai trò chiến lược vận hành nhà máy thủy điện công suất 120 MW. Đồng thời, hồ cung cấp nguồn nước thô chính cho nhà máy nước Yên Bái với công suất hơn 16.000 m3/ngày đêm phục vụ sinh hoạt đô thị và các khu công nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở dữ liệu thủy văn tỉnh Yên Bái với tổng lượng nước tiếp nhận trung bình 24,3 tỷ m3/năm và trữ lượng nội địa 8,47 tỷ m3/năm.
  • Công tác quản lý nhà nước đã kiểm soát tốt 148 giấy phép khai thác, sử dụng và xả thải, duy trì chất lượng nước tại 34 trạm đo đạt quy chuẩn quốc gia QCVN 08-MT:2015/BTNMT.
  • Phân tích chỉ ra thách thức cốt lõi là sự chênh lệch dòng chảy theo mùa, với mùa lũ chiếm trên 60% tổng lượng dòng chảy năm và hạ tầng thủy lợi có tới 92,63% là đập dâng quy mô nhỏ.
  • Nghiên cứu đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung vào số hóa mạng lưới quan trắc tự động, cắm mốc hành lang hồ đập và nâng cấp tỷ lệ xử lý nước thải đô thị lên 60%.
  • Kế hoạch hành động giai đoạn 2024 - 2030 đặt trọng tâm vào thanh tra nghiêm ngặt xả thải công nghiệp và bảo tồn 689.267 ha lưu vực rừng phòng hộ. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác ngay nguồn dữ liệu thực chứng từ luận văn để xây dựng kế hoạch bảo vệ an ninh tài nguyên nước mặt bền vững.