ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là một trong những tư liệu sản xuất quý nhất của loài người, là yếu tố hàng đầu của môi trường sống. Vì thế, chính sách đất đai có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng trưởng bền vững và mở ra các cơ hội kinh tế cho người dân nông thôn và thành thị, đặc biệt là cho người nghèo. Nước ta lại đang trong công cuộc đổi mới nhu cầu sử dụng đất đai để phát triển trong từng nghành, từng địa phương có sự thay đổi đáng kể.
Do vậy, nhà nước ta đã và đang từng bước hoàn thiện pháp luật về đất đai để tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý và sử dụng đất, cần phải nắm vững, quản lý chặt quỹ đất. Để đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước về đất đai tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu các loại đất hợp lý, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện công tác tổng kiểm kê đất đai 2015 và định hướng sử dụng đất giai đoạn 2015- 2020. Đây là công tác quan trọng và trọng tâm nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả của chính sách pháp luật đất đai, để từ đó kịp thời điều chỉnh, bổ sung chính sách pháp luật cho phù hợp, cũng như rút ra ưu, khuyết điểm của quá trình sử dụng đất làm cơ sở khoa học cho công tác xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất trong tương lai. Cung cấp thông tin phục vụ cho việc theo dõi, giám sát, đánh giá việc quản lý, sử dụng đất của từng địa phương theo quy định của Luật đất đai năm 2013.
Vì vậy việc đánh giá kết quả kiểm kê để kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện công tác kiểm kê là rất cần thiết. Xuất phát từ vấn đề đó được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Quản Lý tài Nguyên - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo ThS. Hà Anh Tuấn, em tiến hành nghiên cứu đề tài: 11 “Đánh giá công tác kiểm kê, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất tại xã Yên Lập, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2015” 1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát - Đánh giá tình hình thực hiện kiểm kê đất đai của xã Yên Lập năm 2015 - Rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp trong việc thực hiện kiểm kê đất đai. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Yên Lập - Đánh giá thực trạng công tác kiểm kê trên địa bàn xã Yên Lập về số lượng, chất lượng. - Tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại trong công tác thực hiện kiểm kê đất đai, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện kiểm kê đất đai.3 Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa khoa học - Giúp sinh viên củng cố thêm kiến thức và tìm hiểu thực tế về công tác kiểm kê thành lập bản đồ hiện trạng và các quy phạm của nó - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và sử lý số liệu của sinh viên trong quá trình làm đề tài. * Ý nghĩa thực tiễn - Quá trình thực hiện nghiên cứu về tình hình thực hiện kiểm kê đất đai tại xã sẽ rút ra được những tồn tại, thiếu sót của công tác thực hiện kiểm kê và những nguyên nhân chủ yếu, từ đó có những giải pháp phù hợp để khắc phục.
12 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Khái niệm về thống kê, kiểm kê đất đai Thống kê, kiểm kê đất đai là việc làm thường kỳ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm nắm chắc về số lượng đất đai và diễn biến đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng. Nội dung này là một trong những nội dung có từ lâu đời nhất của công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Bất kể xã hội nào đất nước nào, trong quản lý nhà nước về đất đai đều cần phải thống kê, kiểm kê đất đai. Theo Khoản 17 và 18, Điều 3, Luật Đất đai 2013 có hiệu lực 1/7/2014 thì: - Thống kê đất đai là việc nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm thống kê và tình hình biến động đát đai giữa hai lần thống kê - Kiểm kê đất đai là việc Nhà nước tổ chức điều tra, tổng hợp đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê 2.2 Nội dung của thống kê, kiểm kê đất đai Thu thập số liệu về diện tích đất đai theo mục đích sử dụng và theo đối tượng sử dụng; số liệu về đối tượng sử dụng đất; số liệu về việc chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn từng đơn vị hành chính. Xử lý các số liệu thu thập được để có các số liệu tổng hợp, từ đó rút ra kết luận về cơ cấu sử dụng đất theo mục đích sử dụng và theo đối tượng sử dụng tại thời điểm thực hiện thống kê, kiểm kê; biến động diện tích của mục đích sử dụng đất và biến động của đối tượng sử dụng đất trong một số giai đoạn xác định giữa các kỳ thống kê, kiểm kê. Tập hợp các số liệu thống kê, kiểm kê bao gồm số liệu thu thập và số liệu tổng hợp để lưu trữ và cung cấp 13 cho các nhu cầu sử dụng.
Lập báo cáo thống kê, kiểm kê đất đai bao gồm phương pháp thu thập số liệu thống kê, kiểm kê đất đai và phân tích chất lượng số liệu thu thập và số liệu tổng hợp; thuyết minh về kết quả thống kê, kiểm kê đất đai gồm phân tích hiện trạng sử dụng đất, biến động về sử dụng đất. Cần chú ý là nội dung thống kế đất đai và kiểm kê đất đai đều là các công việc trên, chỉ khác là thống kế đất đai được thực hiện trên cơ sở thu thập số liệu từ hồ sơ địa chính còn kiểm kê đất đai được thực hiện trên cơ sở thu thập số liệu từ thực địa có đối chiếu với số liệu từ hồ sơ địa chính. Các văn bản của Nhà nước Luật Đất đai nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội nước CNXHCN Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về giá đất; Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ, về quản lý sử dụng đất trồng lúa; Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính 14 phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về Hồ sơ địa chính; Thông tư 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về Bảnđồ địa chính; Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất; Thông tư số 42/2014/TT-BTNMT ngày 29 tháng 7 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Quyết định số 594/QĐ-TTg ngày 15 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016; Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 01 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014; Thông tư số 13/2011/TT – BTNMT ngày 15 tháng 4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; Căn cứ Chỉ thị số 01/2010/CT-BTNMT ngày 17/3/2010 của Bộ tài nguyên và môi trường về việc tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về GCNQSDĐ, QSHNƠ, và tài sản khác gắn liền với đất 15 2.2 Các văn bản địa phương Ngày 20/10/2014, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã xây dựng, ban hành Kế hoạch số 6194/KH-UBND về việc thực hiện kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 theo Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 01 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 26/1/2015, UBND huyện Vĩnh Tường đã xây dựng kế hoạch số 122/KH-UBND về việc thực hiện kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 theo Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 01/8/2014 của Thủ tướng Chính Phủ. Các quy định của pháp luật đất đai về thống kê, kiểm kê đất đai.1 Quy định của Luật Đất đai năm 2003. - Thống kê đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm thống kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần thống kê. - Kiểm kê đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê.
Điều 53 Luật Đất đai năm 2003 nêu: Thống kê, kiểm kê đất đai 1. Việc thống kê, kiểm kê đất đai được thực hiện theo quy định sau đây: a) Đơn vị thống kê, kiểm kê đất đai là xã, phường, thị trấn; b)Việc thống kê đất đai được tiến hành một năm một lần; c)Việc kiểm kê đất đai được tiến hành năm năm một lần.