Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là tài nguyên quốc gia đặc biệt, tư liệu sản xuất chủ yếu và thành phần thiết yếu của môi trường sống, được xác định thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của Hiến pháp và Luật Đất đai. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự hình thành, phát triển của thị trường bất động sản, việc chuyển dịch đất đai diễn ra ngày càng sôi động. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các giao dịch ngầm và tình trạng sử dụng đất không đúng quy hoạch đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý nhà nước. Công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là thủ tục pháp lý cao nhất nhằm xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đồng thời tạo căn cứ thu nghĩa vụ tài chính cho ngân sách nhà nước.

Tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, xã Biên Sơn là một xã trung du miền núi có địa hình bán sơn địa và cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch. Việc cấp GCNQSDĐ tại đây đóng vai trò then chốt trong ổn định sản xuất nông - lâm nghiệp và quản lý quy hoạch đất ở nông thôn. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Triệu Nguyễn Ngọc (chuyên ngành Địa chính Môi trường, Khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) đã thực hiện đề tài khóa luận: "Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Biên Sơn - huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang năm 2018" (khảo sát chuyên sâu tại 3 thôn: Hồng Sơn, Tuấn Sơn và Luồng) dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Chí Hiểu.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát: Đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ tại xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; qua đó đề xuất các giải pháp khả thi phục vụ quá trình quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, khoa học và đạt hiệu quả cao trong thời gian tiếp theo.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Điều tra, phân tích, đánh giá thực trạng công tác cấp GCNQSDĐ tại địa bàn nghiên cứu.
    • Xác định các nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã.
    • Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành công tác cấp GCNQSDĐ tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác đăng ký, lập hồ sơ và cấp GCNQSDĐ cho các loại đất (đất ở, đất nông nghiệp, đất tổ chức) trên địa bàn thôn Hồng Sơn, thôn Tuấn Sơn và thôn Luồng thuộc xã Biên Sơn.
  • Phạm vi không gian: Xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (tập trung tại 3 thôn: Hồng Sơn, Tuấn Sơn, Luồng).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu được thực hiện từ ngày 28/05/2018 đến ngày 15/09/2018, đánh giá số liệu thực trạng giai đoạn 2016 – 2018 và trọng tâm năm 2018.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và hướng dẫn chuyên ngành quản lý đất đai:

  • Hệ thống văn bản luật và nghị định: Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2014); Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định số 44/2014/NĐ-CP về giá đất; Nghị định số 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất; Nghị định số 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai 2003 (Điều 135 quy định về trình tự thủ tục cấp giấy).
  • Hệ thống thông tư và quyết định: Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính; Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa chính; Thông tư số 76/2014/TT-BTC và Thông tư số 77/2014/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ tài chính đất đai; Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT về việc sửa đổi mẫu giấy chứng nhận.
  • Quy chuẩn 4 mẫu GCNQSDĐ qua các thời kỳ lịch sử: Mẫu theo Quyết định 201/QĐ/ĐK ngày 14/07/1989 (giấy bìa đỏ cho đất nông - lâm nghiệp và đất ở); Mẫu theo Nghị định số 60/NĐ-CP ngày 05/07/1994 (giấy bìa hồng và lưu trắng cho nhà ở đô thị); Mẫu theo Quyết định số 24/2004/BTNMT và Quyết định 08/2006/QĐ-BTNMT (giấy màu đỏ); Mẫu thống nhất toàn quốc theo Nghị định số 88/2009/NĐ-CP và Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT (giấy màu hồng cánh sen, cấp 01 bản chính cho chủ sử dụng).

Để triển khai các nội dung trên, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn sau:

  • Phương pháp nghiên cứu văn bản: Hệ thống hóa các văn bản luật, nghị định, thông tư về thủ tục, thẩm quyền, điều kiện và nguyên tắc cấp GCNQSDĐ.
  • Phương pháp thu thập, thống kê số liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu, báo cáo thống kê đất đai, bản đồ địa chính từ UBND xã Biên Sơn, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lục Ngạn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang và Công ty Cổ phần Tài nguyên và Môi trường Phương Bắc.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu: Xử lý các chỉ tiêu diện tích, cơ cấu sử dụng đất, tiến độ cấp phát GCN qua các năm và so sánh đối chiếu với các quy định hiện hành.
  • Phương pháp so sánh: So sánh tiến độ, tỷ lệ hoàn thành công tác cấp giấy giữa các năm (2016, 2017, 2018) và giữa 3 thôn Hồng Sơn, Tuấn Sơn, Luồng.
  • Phương pháp chuyên gia và kế thừa tài liệu: Tham khảo ý kiến cán bộ chuyên môn địa chính, cán bộ quản lý tài nguyên và kế thừa các tài liệu điều tra cơ bản trước đó.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu phỏng vấn: Thiết kế và thực hiện phỏng vấn trực tiếp 60 phiếu điều tra tại 3 thôn (phân bổ đồng đều 20 phiếu/thôn). Cơ cấu mẫu khảo sát bao gồm: 30 phiếu dành cho đối tượng hộ sản xuất nông nghiệp, 15 phiếu dành cho cán bộ công chức và 15 phiếu dành cho đối tượng kinh doanh buôn bán tự do.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của công tác quản lý đất đai và việc cấp GCNQSDĐ trong nền kinh tế thị trường; nêu rõ mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 yêu cầu nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài đối với việc củng cố kiến thức chuyên môn và đóng góp vào thực tiễn quản lý địa chính tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của GCNQSDĐ đối với quản lý nhà nước (nắm chắc số lượng, chất lượng, phân phối đất đai theo quy hoạch) và đối với người sử dụng đất (bảo đảm quyền hợp pháp, tham gia thị trường bất động sản). Trình bày 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai (theo Điều 22 Luật Đất đai 2013), quyền hạn của người sử dụng đất (Điều 166), hồ sơ địa chính, thẩm quyền và trách nhiệm của các cấp (Trung ương, Tỉnh, Huyện, Xã). Đồng thời, chương này tổng kết số liệu cấp GCNQSDĐ trên toàn quốc tính đến 31/12/2014, tình hình cấp giấy tại tỉnh Bắc Giang và kết quả thực hiện tại huyện Lục Ngạn.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là công tác cấp GCNQSDĐ tại 3 thôn (Hồng Sơn, Tuấn Sơn, Luồng) thuộc xã Biên Sơn; giới hạn thời gian thực hiện từ 28/05/2018 đến 15/09/2018. Đề cương vạch rõ 5 nội dung nghiên cứu chính và thuyết minh chi tiết 7 phương pháp nghiên cứu được áp dụng, bao gồm quy mô và cơ cấu mẫu điều tra 60 hộ dân.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh các phát hiện nghiên cứu thực địa:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Biên Sơn: Phân tích vị trí địa lý (giáp trường bắn TB1, xã Hộ Đáp, xã Hồng Giang, xã Thanh Hải), giao thông (Tỉnh lộ 290 dài 6 km, Huyện lộ 83 dài 2,5 km), địa hình bán sơn địa nghiêng từ Bắc xuống Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa (nhiệt độ trung bình 20°C, lượng mưa 1.600 – 1.800 mm). Toàn xã có 18 thôn, 1.873 hộ gia đình, 8.160 nhân khẩu (lao động chiếm 61,9% dân số, trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 60%). Cơ cấu kinh tế năm 2017 gồm: nông nghiệp 60,7%, dịch vụ thương mại 20%, tiểu thủ công nghiệp 19,3%.
  • Hiện trạng sử dụng đất năm 2018: Tổng diện tích tự nhiên là 2.063,23 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 1.569,71 ha (76,08%), đất phi nông nghiệp chiếm 413,50 ha (20,04%), đất chưa sử dụng là 10,42 ha (0,50%).
  • Đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ: Đánh giá kết quả cấp giấy cho đất nông nghiệp, đất ở, đất tổ chức tại 3 thôn Hồng Sơn, Tuấn Sơn, Luồng năm 2018 và biến động qua giai đoạn 2016 – 2018; đánh giá nhận thức của 60 hộ dân qua điều tra phỏng vấn.
  • Phân tích thuận lợi, khó khăn và giải pháp: Chỉ rõ những rào cản về biến động ranh giới, tự chuyển mục đích, thất lạc giấy tờ lịch sử và đề xuất các nhóm giải pháp khắc phục.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các kết quả đạt được về hiện trạng sử dụng đất và tiến độ cấp giấy; đưa ra các kiến nghị đối với UBND tỉnh Bắc Giang, UBND huyện Lục Ngạn và UBND xã Biên Sơn nhằm tháo gỡ khó khăn về chuyên môn, kinh phí đo đạc và cải cách hành chính.


Kết quả và đóng góp

1. Hiện trạng quản lý và sử dụng quỹ đất xã Biên Sơn năm 2018

Theo số liệu kiểm kê đất đai do Công ty Cổ phần Tài nguyên và Môi trường Phương Bắc và UBND xã Biên Sơn cung cấp, quỹ đất của xã được phân bổ cụ thể như sau:

STT Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
I Tổng diện tích đất tự nhiên 2.063,23 100,00
1 Đất nông nghiệp 1.569,71 76,08
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 914,70 44,33
- Đất trồng cây hàng năm 103,24 5,00
- Đất trồng cây lâu năm 811,46 39,33
1.2 Đất lâm nghiệp (Rừng sản xuất) 654,46 31,72
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 0,55 0,03
1.4 Đất phòng hộ / Đất làm muối / Đất khác 0,00 0,00
2 Đất phi nông nghiệp 413,50 20,04
2.1 Đất khu dân cư nông thôn 320,68 15,54
2.2 Đất chuyên dùng 56,43 2,74
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan 0,55 0,03
- Đất công trình sự nghiệp 3,10 0,15
- Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 23,91 1,16
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng 16,70 0,81
2.3 Đất tín ngưỡng 0,29 0,01
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, hỏa táng 3,22 0,16
2.5 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối 0,85 0,04
2.6 Đất có mặt nước chuyên dùng 32,02 1,55
3 Đất chưa sử dụng 10,42 0,50

2. Đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ và các khó khăn tồn tại

Kết quả nghiên cứu thực tế tại 3 thôn (Hồng Sơn, Tuấn Sơn, Luồng) và tổng quan địa bàn huyện Lục Ngạn cho thấy:

  • Tiến độ cấp giấy: Huyện Lục Ngạn trong năm thực hiện cấp mới được gần 5.450 giấy chứng nhận cho đất ở và đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân (vượt 15% kế hoạch năm). Tại xã Biên Sơn, việc cấp giấy được triển khai tích cực theo kế hoạch của Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai.
  • Những tồn tại, khó khăn chính:
    • Nguồn gốc đất đai phức tạp qua nhiều thời kỳ lịch sử; ranh giới sử dụng đất giữa các hộ liền kề có biến động do đo đạc thủ công trước đây, phát sinh tranh chấp ranh giới khi đo đạc lại bằng thiết bị kỹ thuật số.
    • Tình trạng người dân tự ý chuyển mục đích sử dụng đất (từ đất trồng lúa, cây hàng năm sang trồng cây lâu năm như vải thiều, nhãn hoặc tự ý xây dựng nhà ở trên đất vườn tạp, đất cơ quan cũ) khiến việc xác định nghĩa vụ tài chính và nguồn gốc hợp pháp gặp nhiều trở ngại.
    • Một số hồ sơ bị thất lạc giấy tờ gốc do thiên tai, lịch sử để lại; quy trình xét duyệt tại cấp xã đòi hỏi nhiều thời gian xác minh nguồn gốc và niêm yết công khai (15 ngày theo quy định).
    • Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ địa chính cơ sở còn thiếu đồng đều; trang thiết bị đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính dạng số chưa được trang bị đồng bộ.
    • Nhận thức về pháp luật đất đai của một bộ phận người dân tại vùng trung du miền núi còn hạn chế, dẫn đến tâm lý e ngại thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc chậm trễ kê khai đăng ký.

3. Giải pháp do tác giả đề xuất

Tác giả đưa ra 3 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả công tác cấp GCNQSDĐ tại xã Biên Sơn:

  1. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Đẩy mạnh công tác phổ biến Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn qua hệ thống loa truyền thanh, họp thôn, giúp người dân hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ khi được cấp GCNQSDĐ.
  2. Nâng cao năng lực chuyên môn và cơ sở vật chất: Tổ chức tập huấn nghiệp vụ định kỳ cho cán bộ địa chính xã; đầu tư máy móc, thiết bị đo đạc hiện đại và phần mềm quản lý hồ sơ địa chính dạng số nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ.
  3. Phối hợp liên ngành và cải cách thủ tục hành chính: Tăng cường sự phối hợp giữa UBND xã, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai và cơ quan thuế; giải quyết dứt điểm các tranh chấp ranh giới tại cấp cơ sở; phân loại các trường hợp vướng mắc về nguồn gốc đất để có phương án xử lý theo đúng thẩm quyền quy định tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Đề tài giới hạn phạm vi điều tra chi tiết số liệu thứ cấp và phỏng vấn hộ gia đình tại 3 thôn (Hồng Sơn, Tuấn Sơn, Luồng) trên tổng số 18 thôn của xã Biên Sơn. Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 60 phiếu phỏng vấn, thực hiện trong khung thời gian từ tháng 5 đến tháng 9/2018 nên chưa phản ánh toàn diện biến động đất đai của toàn bộ địa bàn xã.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi điều tra trên toàn bộ 18 thôn của xã Biên Sơn và mở rộng so sánh với các xã khác trong huyện Lục Ngạn; tiếp tục theo dõi tiến độ cấp GCNQSDĐ trong các năm tiếp theo; nghiên cứu sâu hơn về các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số đồng bộ tại địa phương.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên các ngành Quản lý đất đai, Địa chính Môi trường, Quản lý tài nguyên và Môi trường khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp hoặc chuyên đề nghiên cứu về đăng ký đất đai cấp cơ sở; cán bộ địa chính cấp xã, huyện trong việc tham khảo các vướng mắc thực tế và quy trình xử lý hồ sơ địa chính.
  • Nội dung có giá trị sử dụng cao: Khung phương pháp tiếp cận kết hợp giữa phân tích số liệu địa chính thứ cấp và khảo sát xã hội học 60 phiếu; hệ thống bảng số liệu kiểm kê hiện trạng sử dụng đất năm 2018 của xã Biên Sơn; bảng đối chiếu các căn cứ pháp lý và mẫu giấy chứng nhận qua các thời kỳ lịch sử.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu và cơ cấu phỏng vấn như thế nào trong điều tra xã hội học? Khóa luận thực hiện điều tra bằng phiếu phỏng vấn với tổng quy mô mẫu là 60 phiếu, chia đều cho 3 thôn Hồng Sơn, Tuấn Sơn và Luồng (20 phiếu mỗi thôn). Cơ cấu đối tượng được phân bổ gồm: 30 phiếu dành cho người dân sản xuất nông nghiệp, 15 phiếu dành cho cán bộ công chức và 15 phiếu dành cho người kinh doanh buôn bán tự do.

2. Tổng diện tích tự nhiên và cơ cấu sử dụng đất chính của xã Biên Sơn năm 2018 được xác định là bao nhiêu? Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Biên Sơn năm 2018 là 2.063,23 ha. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 1.569,71 ha (tương đương 76,08%), đất phi nông nghiệp chiếm 413,50 ha (tương đương 20,04%) và đất chưa sử dụng là 10,42 ha (tương đương 0,50%).

3. Khóa luận đã thống kê bao nhiêu loại mẫu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tồn tại qua các thời kỳ lịch sử? Khóa luận thống kê 4 loại mẫu Giấy chứng nhận:

  • Loại 1: Mẫu giấy màu đỏ cấp theo Quyết định 201/QĐ/ĐK ngày 14/07/1989 của Tổng cục Quản lý ruộng đất cho đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở.
  • Loại 2: Mẫu giấy màu hồng (cấp cho người dùng) và màu trắng (lưu tại cơ quan quản lý) cấp theo Nghị định 60/NĐ-CP ngày 05/07/1994 cho nhà ở đô thị.
  • Loại 3: Mẫu giấy theo Luật Đất đai 2003 (Quyết định 24/2004/BTNMT và Quyết định 08/2006/QĐ-BTNMT) gồm bìa màu đỏ giao cho chủ sử dụng và bản lưu màu trắng.
  • Loại 4: Mẫu giấy màu hồng cánh sen áp dụng thống nhất toàn quốc theo Nghị định 88/2009/NĐ-CP và Thông tư 17/2009/TT-BTNMT.

4. Khó khăn chính trong việc cấp GCNQSDĐ tại xã Biên Sơn được chỉ ra là gì? Khó khăn chủ yếu gồm: nguồn gốc đất phức tạp qua nhiều thời kỳ, ranh giới thửa đất có biến động và phát sinh tranh chấp khi đo đạc lại; tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang cây ăn quả lâu năm hoặc đất ở; hồ sơ, giấy tờ cũ bị thất lạc; trang thiết bị đo đạc và năng lực cán bộ địa chính cấp cơ sở còn một số hạn chế nhất định.

5. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được phân cấp như thế nào theo Luật Đất đai 2013 được nêu trong khóa luận? Theo Điều 105 Luật Đất đai 2013: UBND cấp tỉnh cấp GCNQSDĐ cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (có thể ủy quyền cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường cùng cấp); UBND cấp huyện cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn liền với đất ở tại Việt Nam.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Triệu Nguyễn Ngọc đã hoàn thành việc đánh giá thực trạng công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang năm 2018 dựa trên số liệu thực địa và điều tra xã hội học tại 3 thôn Hồng Sơn, Tuấn Sơn, Luồng. Nghiên cứu đã cung cấp bức tranh chi tiết về hiện trạng sử dụng 2.063,23 ha đất tự nhiên của xã và làm rõ những vướng mắc phát sinh từ lịch sử quản lý, biến động ranh giới và thủ tục tài chính. Các giải pháp do tác giả đề xuất bám sát các quy định của Luật Đất đai 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP, mang tính khả thi nhằm hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương.