Chương 1 TỎNG QUAN 1. Đất đai và quản lý nhà nước về dat đai 1. Đất đai Đất (soil): Docuchaev (1846 - 1903) đã đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về dat: "Dat là lớp vỏ phong hóa trên cùng của trái đất, được hình thành do tác động tông hợp của năm yếu tổ sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình và thời gian. Nếu là dat đã sử dụng thì có thêm sự tác động của con người là yếu tố hình thành dat thứ 6” (Yuong, 1988).
Quản lý Nhà nước về đất đai 1. Khái niệm Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan nhà nước có thầm quyền dé thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai, đó là hoạt động nam chắc tình hình sử dung dat; phân phối và phân phối lại quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình quan ly sử dụng đất, nguồn lợi từ đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007). Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý Nhà nước ve dat đai phải đảm bảo các nguyên tac sau: - Phải quản lý toàn bộ vốn đất đai hiện có của quốc gia, không được quản lý lẻ tẻ từng vùng. - Nội dung tải liệu quản ly không phụ thuộc vào mục đích sử dụng.
- Số liệu quản lý đất đai phải bao hàm cả số lượng, chất lượng, loại, hạng mục phục vụ cho mục đích sử dụng đất của các loại đó. - Quản lý đất đai phải thể hiện theo hệ thống và phương pháp thống nhất trong toàn quốc. - Những quy định, biểu mẫu phải được thống nhất cả nước, trong ngành địa chính. - Số liệu so sánh không chỉ theo từng đơn vị nhỏ mà phải được thống nhất so sánh cả nước.
- Tài liệu trong quản lý phải đơn giản phổ thông trong cả nước. - Những điều kiện riêng biệt của từng địa phương, cơ sở phải phản ánh được. - Những điều kiện riêng lẻ phải khách quan, chính xác, đúng những kết quả, số liệu nhận được từ thực tế. - Tài liệu quản lý đất đai phải đảm bảo tính pháp luật, phải đầy đủ, đúng thực - Quản lý nhà nước về đất đai phải trên cơ sở pháp luật, luật đất đai và các văn bản, biểu mẫu quy định, hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan chuyên môn từ Trung ương đến địa phương.
- Quản lý đất đai phải tuân theo nguyên tắc tiết kiệm mang lại hiệu quả kinh tế cao, phát triển bền vững. Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Nội dung quan lý Nhà nước về dat đai được quy định tại Điều 22 Luật Dat dai năm 2013 như sau: - Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tô chức thực hiện văn bản đó. - Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. - Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dung đất. - Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. - Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thống kê, kiểm kê đất đai. - Xây dựng hệ thông thông tin đất đai. - Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. - Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. - Phố biến, giáo dục pháp luật về đất đai. - Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. - Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
Thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất 1. Thu hồi đất Hiện nay, pháp luật về đất đai quy định cụ thê về hai trường hợp thu hồi đất. Thứ nhất là Nhà nước thu hồi đất đối với các dự án sử dụng đất đề phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Cụ thé, Nhà nước chi thu hồi đất đối với các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và một số trường hợp được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét thông qua chủ trương thu hồi đất.
Thứ hai là cơ chế Nhà nước không thu hồi đất mà chủ đầu tư và người sử dụng đất tự thỏa thuận việc sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh thông qua hình thức nhận chuyên nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng dat. Trường hợp sử dụng đất thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh không thuộc các trường hợp Nhà nước thu hồi đất mà chủ đầu tư và người sử dụng đất tự thỏa thuận thông qua hình thức nhận chuyên nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì thực hiện theo quy định. Như vậy, pháp luật đã quy định cụ thé về các trường hợp mà chủ đầu tư dự án phải thỏa thuận với người sử dụng đất khi muốn thu hồi đất. Quyền lợi của người sử dụng đất được đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chủ đầu tư và người sử dụng đất thỏa thuận sẽ thông qua các hình thức như nhận chuyền nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 73 Luật đất đai; Điều 16 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; Khoản 15, khoản 50 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP; Điều 4 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT. Cụ thể, việc sử dụng đất đề thực hiện dự án, công trình sản xuất, kinh doanh không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này ma phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thâm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư được nhận chuyên nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất 1. Bồi thường Bồi thường thiệt hại có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao động cho một chủ thé nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thé khác (Trung tâm Ngôn ngữ va văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Dao tạo, 1998).
Việc BT thiệt hại nay có thé vô hình hoặc hữu hình (BT bằng tiền, bằng vật chất khác.) có thé do các quy định của pháp luật điều tiết, hoặc do thỏa thuận giữa các chủ thẻ. Bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất thực chất là việc giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, người được giao đất, thuê đất và người bị thu hồi đất. Bồi thường thiệt hại về đất phải được thực hiện theo quy định của Nhà nước về giá đất, về phương thức thu hồi và hạch toán. Việc bồi thường thiệt hại về đất không giống với việc trao đối, mua bán tài sản, hàng hóa trên thị trường.
Nó vừa phải dam bảo lợi ích của Nhà nước, của người nhận quyền sử dụng đất thu hồi, có nghĩa là phải giải quyết một cách hài hòa giữa các đối tượng tham gia (Nguyễn Vĩnh Diện, 2006). Hỗ trợ Tại điều 83, luật Dat đai 2013 quy định hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để 6n định đời sống, sản xuất và phat triển (Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, 2013). Như vậy, khác với bồi thường là việc trả lại một các tương xứng những giá trị bị thiệt hại, thì hỗ trợ mang tính chính sách, trợ giúp thêm của Nhà nước, thê hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với sự hi sinh, mất mát của người bị thu hồi đất cho những lợi ích chung của đất nước, của cộng đồng. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, do việc bồi thường chưa thực sự song phẳng nên các khoản hỗ trợ chưa thực sự đúng với ý nghĩa mà nó được định nghĩa trong Luật đất đai và trong đa số trường hợp thì nó chỉ là sự bù đắp vào khoảng thiếu hụt do việc bồi thường thiếu sòng phẳng gây ra; bên cạnh đó một số khoản hỗ trợ thực chất là bồi thường như là hỗ trợ di chuyền, hỗ trợ chuyên đổi nghề nghiệp và tạo việc làm vì đây chính là những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra.
Tái định cư Hiến pháp năm 1992 quy định quyền có chỗ ở là một trong những quyền cơ bản của công dân. Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất ở của người sử dụng đất thì Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện việc tái định cư cho họ. Tái định cư là chính sách của nhà nước nhằm bồi thường thiệt hại, 6n định cuộc sống của người dân sau khi thu hồi đất. Người dân được hỗ trợ bằng cách cấp nhà xây sẵn, nhà tái định cư.
Trong quy định của Luật đất đai năm 2013 có sự giao thoa giữa hai khái niệm này, theo đó các khu tái định cư được xây dựng để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyên chỗ ở. Điều kiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư a.