Chương 1: Dẫn nhập (Bối cảnh nghiên cứu; Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng, phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Cấu trúc của luận văn) Chương 2: Cơ sở lý thuyết (Khái niệm; Nghiên cứu trước; Kinh nghiệm quốc tế, Mô hình RBM) Chương 3: Phân tích (Vai trò các bên liên quan; Đánh giá mô hình quản lý NCKH hiện nay) Chương 4: Kết luận, khuyến nghị và hạn chế -7- CHƯƠNG 2.1 Những khái niệm 2.1 Đề tài NCKH Cộng đồng khoa học định nghĩa NCKH (scientific research hay scientific study) là quy trình thực hiện một thí nghiệm có phương pháp để kiểm định một hay nhiều giả thuyết, hoặc để nhằm tìm câu trả lời cho những câu hỏi chuyên biệt. “Thí nghiệm” được hiểu rộng hơn trong khoa học xã hội. Nghiên cứu khoa học phải dựa vào phương pháp khoa học (scientific method) nhằm đi tìm sự thật và quy luật tự nhiên (Nguyễn Văn Tuấn, 2013b). Đề tài NCKH (gọi tắt là đề tài) là một kế hoạch nghiên cứu gồm một hoặc nhiều “thí nghiệm“ nhằm giải quyết một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội.
Đề tài nghiên cứu trong khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn là vấn đề khoa học, công nghệ cần được nghiên cứu để nắm được bản chất, nguyên lý, tìm ra giải pháp, tạo ra công nghệ nhằm phục vụ cho mục tiêu cụ thể của kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng (Bộ KH&CN, 2006). Luận văn này sử dụng khái niệm đã được cộng đồng thế giới công nhận như trên vì nó phản ánh được bản chất của hoạt động nghiên cứu.2 Phân loại đề tài Luận văn tập trung vào hai cách phân loại đề tài như sau: Xét theo loại hình nghiên cứu, đề tài được phân thành 2 loại sau: Thứ nhất, đề tài nghiên cứu cơ bản (NCCB): là nghiên cứu nhằm tìm ra tri thức mới mang tính nền tảng cho nghiên cứu khác. Ngoài ra, có thể phân loại thành nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng. Thứ nhì, đề tài nghiên cứu ứng dụng (NCƯD): là nghiên cứu nhằm tìm ra tri thức mới để giải quyết các vấn đề thực tiễn, xa hơn nữa là tạo ra sản phẩm sử dụng được và có thể thương mại hóa.
Do vậy, định nghĩa này cũng bao hàm nghiên cứu triển khai, tức là nghiên cứu nhằm sáng tạo ra sản phẩm mới, công nghệ mới như bảng thử nghiệm (Prototype) hoặc sản xuất thử (pilot). -8- Xét theo cấp quản lý, đề tài được phân thành các cấp sau: Đề tài cấp nhà nước: các đề tài thuộc chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước như KC, KX, đề tài độc lập không thuộc các chương trình KC, KX, đề tài hợp tác quốc tế theo nghị định thư. Kinh phí đề tài cấp nhà nước thường lớn, trung bình vài tỷ đồng, do Bộ KH&CN tuyển chọn, giao nhiệm vụ và kinh phí, thành lập hội đồng đánh giá nghiệm thu, cơ quan chủ trì thường là Viện nghiên cứu hoặc Trường ĐH theo dõi, giám sát, tổ chức nghiệm thu cấp cơ sở. Đề tài nghiên cứu cơ bản do NAFOSTED tài trợ với kinh phí vài trăm triệu đến một tỷ đồng cho một đề tài.
Theo đó NAFOSTED tuyển chọn, giao nhiệm vụ và kinh phí, thành lập hội đồng đánh giá nghiệm thu. Đề tài cấp Bộ: Kinh phí tương đối lớn, trung bình 300 – 500 triệu đồng cho một đề tài. Gần đây có các đề tài trên một tỷ. Bộ (trừ Bộ KH&CN) có trách nhiệm xây dựng, tuyển chọn, giao nhiệm vụ và kinh phí, thành lập hội đồng đánh giá nghiệm thu.
Đề tài cấp Sở: Kinh phí trung bình vài trăm triệu đến 1 tỷ đồng cho một đề tài. Các Sở KH&CN tuyển chọn, giao nhiệm vụ và kinh phí, thành lập hội đồng đánh giá nghiệm thu. Mục tiêu tuyển chọn đề tài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đề tài cấp cơ sở: Kinh phí nhỏ, trung bình 50-100 triệu đồng cho một đề tài.
Đề tài do Viện hoặc Trường hoặc trung tâm nghiên cứu tuyển chọn, phân kinh phí, theo dõi giám sát và đánh giá nghiệm thu. Đề tài sinh viên: kinh phí dưới 50 triệu đồng cho một đề tài. Đề tài do Trường ĐH tuyển chọn, phân kinh phí, theo dõi giám sát và đánh giá nghiệm thu. Người thực hiện là sinh viên, nhưng giảng viên hướng dẫn là chủ nhiệm.
Luận văn này tập trung nghiên cứu ở mức cao của các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, không xét đến nghiên cứu của sinh viên dưới dạng luận văn, luận án cuối khoá.3 Kết quả NCKH Một nghiên cứu dù được phân loại thế nào thì kết quả nghiên cứu là tri thức, là sự thật mà con người mong muốn tìm hiểu, khám phá. Tri thức tạo ra giá trị khi được lan toả, chia sẽ hay được áp dụng vào thực tiễn, vào hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc khuyến nghị chính sách. Các hình thức lan tỏa, chia sẽ tri thức gồm: i) trình bày báo cáo tại các diễn -9- dàn, hội thảo khoa học; ii) viết bài trong các ấn phẩm khoa học; iii) đăng ký sở hữu trí tuệ; iv) đào tạo sinh viên đại học, sau đại học. Kết quả NCKH có thể được công bố dưới các dạng sau: Thứ nhất, ấn phẩm khoa học gồm bài báo khoa học công bố trên các tạp chí, hội nghị và sách, chương sách được xuất bản.
Mức độ uy tín của tạp chí, hội nghị và nhà xuất bản do cộng đồng khoa học bình chọn. Thứ hai, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ4 gồm 4 nhóm: i) Quyền sở hữu công nghiệp; ii) Quyền đối với giống cây trồng ; iii) Quyền tác giả ; iv) Quyền liên quan đến quyền tác giả.4 Quản lý đề tài Quản lý đề tài là một phận bộ của chính sách quản lý NCKH, cụ thể là việc cơ quan tài trợ tiến hành: xác định hướng nghiên cứu ưu tiên, xét duyệt đề cương, cấp phát kinh phí, quản lý tài chính đối, đánh giá định kỳ, nghiệm thu, khen thưởng và xử lý vi phạm.5 Chất lượng Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAHE - International Network of Quality Assurance in Higher Education) đưa ra 2 định nghĩa về chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009): Một là, tuân theo các chuẩn quy định. Vậy cần phải có bộ tiêu chí chuẩn để đánh giá chất lượng. Hai là, đạt được các mục tiêu đề ra.
Mục tiêu đề ra phải phù hợp điều kiện hiện tại và phù hợp xu hướng quốc tế.2 Cơ sở can thiệp của Nhà nước NCKH gồm: NCCB và NCƯD, tuy nhiên ranh giới giữa chúng cũng không rõ ràng. Đầu tư NCCB rất tốn kém, rủi ro cao, nhưng mang lại kết quả có lợi ích lớn hơn chi phí xét trên quan điểm tổng thể nền kinh tế, NCCB cung cấp miễn phí tri thức cho nhiều nghiên cứu tiếp theo nhằm tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu cuộc sống (C. Vậy NCCB tạo ra hàng hóa công thuần túy bởi kết quả nghiên cứu không mang tính cạnh tranh (chi phí biên bằng không) và không mang tính loại trừ (ai cũng có thể tiếp cận dễ dàng), do vậy hiện tượng "người ăn theo" là không thể tránh khỏi, từ đó khu vực tư 4 Khoản 1, điều 4 của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009. -10- ít có động cơ tài trợ nghiên cứu.
NCKH đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, do vậy, Nhà nước cần phải tài trợ/hỗ trợ thì hàng hóa này mới tồn tại. So với NCCB, NCƯD là giai đoạn phát triển tiếp theo dựa trên kết quả của NCCB và/hoặc các nghiên cứu đi trước, do vậy, khả năng tạo ra sản phẩm dùng được ngay cũng cao hơn, tư nhân có động lực đầu tư cho loại hình nghiên cứu này. NCƯD tạo ra hàng hoá công không thuần tuý vì kết quả nghiên cứu không mang tính cạnh tranh do công nghệ có tính chất lan toả nên chi phí biên bằng không, nhưng mang tính loại trừ vì người tiêu dùng phải trả phí để được sử dụng, chính phủ có thể khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư nghiên cứu bằng nhiều hình thức như hợp tác nghiên cứu, miễn thuế cho phần lợi nhuận giữ lại làm quỹ đầu tư nghiên cứu và phát triển,… Tóm lại, NCKH tạo ra hàng hoá công thuần tuý hoặc không thuần tuý thì lợi ích hàng hoá này mang lại cao hơn chi phí, do vậy, Nhà nước cần duy trì hàng hoá này thông qua tài trợ hoặc hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, xa hơn là tạo điều kiện thúc đẩy xã hội hoá NCKH vì nguồn lực Nhà nước có hạn.3 Nghiên cứu trước Một nghiên cứu trước đã đưa ra mô hình quản lý tổng thể trong quản lý NCKH gồm các đầu vào, quá trình và đầu ra (Lê Yên Dung, 2009) như sau: Hình 2.1 Sơ đồ quản lý tổng thể hoạt động KH&CN Đầu vào Quá trình Đầu ra Hiệu quả (Input) (Process) (Output) (Outcome) _Thông tin _Môi trường làm việc _Sản phẩm NCKH: bài báo, _Ứng dụng báo cáo, qui trình công nghệ, trong thực tiễn _Vật liệu/ nguyên _Tổ chức chỉ đạo và giải pháp hữu ích… quản lý thực hiện (Tiến _Phát triển liệu độ, chất lượng, mức độ _Nâng cao trình độ người đội KH&CN _Thiết bị đạt được.) ngũ cán bộ: kết quả đào tạo đại học và sau đại học _Nhân lực _Đánh giá quá trình _Tăng cường tiềm lực cho đơn _Tài chính _Hỗ trợ, thúc đẩy vị: trang bị máy móc, thiết bị _Tăng cường hợp tác quốc tế: thiết lập mối quan hệ cùng hợp tác nghiên cứu -11- Quản lý đầu vào: xây dựng kế hoạch và chuẩn bị các nguồn lực gồm: i) Xác định và hình thành mục tiêu; ii) Xác định và đảm bảo nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu; iii) Xây dựng kế hoạch hành động; iv) Lựa chọn hành động ưu tiên để đạt mục tiêu tốt nhất. Quản lý quá trình: Quản lý NCKH đòi hỏi mỗi người thực hiện tốt công việc của từng khâu.
Tổ chức thực hiện là khâu quyết định đến chất lượng đầu ra. Vì vậy, cần tập trung: i) Thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo về KH&CN; ii) Giám sát, kiểm tra định kỳ tiến độ thực hiện theo đề cương đăng ký.