Mở đầu Phần 2: Nội dung, gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở trƣờng đại học và Kinh nghiệm quốc tế Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở đại học đa ngành đa lĩnh vực Chƣơng 3: Mô hình và một số giải pháp triển khai mô hình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở đại học đa ngành đa lĩnh vực Phần 3: Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo và Phụ lục 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Với các trƣờng ĐH nƣớc ngoài nói chung, NCKH là hoạt động không thể thiếu, là hoạt động đƣơng nhiên và tất yếu. Vì vậy, không có nhiều những nghiên cứu tách bạch về quản lý NCKH trong trƣờng ĐH, mà những nghiên cứu về quản lý/quản trị ĐH nói chung đều đề cập đến hoạt động NCKH của trƣờng ĐH đó.
Chính vì vậy, trong luận án này chúng tôi giới thiệu một số công trình nghiên cứu đã tham khảo theo các nội dung sau đây. Vai trò của hoạt động NCKH Trong quá trình phát triển và hội nhập mạnh mẽ, trên thế giới đang tồn tại cuộc chạy đua giành uy tín và vị trí cao hơn giữa các trƣờng ĐH nhằm có đƣợc những nguồn tài trợ khổng lồ, các nhà khoa học hàng đầu đến làm việc và thu hút số lƣợng lớn sinh viên theo học. Nhìn chung, có sự đồng thuận rộng rãi là trƣờng ĐH có 3 vai trò chính: một là bảo đảm chất lƣợng xuất sắc trong đào tạo, hai là nghiên cứu, phát triển và phổ biến tri thức và có những hoạt động nhằm đóng góp về văn hóa, khoa học và đời sống xã hội, nhƣng trong thực tế đánh giá về uy tín của trƣờng ĐH dƣờng nhƣ chú ý nhiều đến khía cạnh nghiên cứu, theo phân tích thống kê của Levin, Jeong và Ou (2006) [96]. Và nhận định của Hobbs (1997) “…cực hiếm có những trường ĐH đẳng cấp quốc tế mà không đồng thời là một trường ĐH mạnh về nghiên cứu” [91] càng nhấn mạnh vai trò của NCKH trong trƣờng ĐH.
Trong nghiên cứu của Parker (2008) đã phân loại các tiêu chí khác nhau để nhận dạng vấn đề nghiên cứu và giảng dạy nhƣ là các chứng cứ để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục ĐH ở Anh. Kết quả cho thấy, phần lớn các giảng viên ĐH đã đáp ứng đƣợc yêu cầu cân bằng về giảng dạy và NCKH. Hơn 15 năm về trƣớc, chính phủ Anh đã tập trung đầu tƣ cải cách hệ thống giáo dục ĐH nhằm nâng cao chất lƣợng giảng dạy. Ngày nay, bên cạnh việc cam kết duy trì chất lƣợng giảng dạy, các 7 z trƣờng ĐH đối mặt với việc phải tăng cƣờng hơn nữa hiệu quả hoạt động NCKH do Ban Đánh giá Chất lƣợng Nghiên cứu - một hội đồng thẩm định để đánh giá chất lƣợng NCKH trong Hiệp hội các trƣờng ĐH của Anh.
Kết quả đánh giá chất lƣợng NCKH này của Ban Đánh giá Chất lƣợng Nghiên cứu sẽ quyết định việc cung cấp nguồn tài chính cho NCKH của trƣờng ĐH đó. Việc coi trọng cả giảng dạy và NCKH là mục tiêu luôn đƣợc nhấn mạnh ở các trƣờng ĐH Anh [98]. Stephan (2008) đã khẳng định "…NCKH đóng vai trò then chốt trong giáo dục cả ở châu Âu và Hoa Kỳ…". Trong thời gian tới, xuất hiện 3 thay đổi trong quá trình quản lý NCKH, đó là: cần có chính sách khích lệ tăng cƣờng xuất bản (số công trình xuất bản và số lần trích dẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giành đƣợc tài trợ kinh phí cho đơn vị/cá nhân đó), thay đổi hệ thống thƣởng (đánh giá cao các bằng sáng chế, phát minh, bên cạnh đó các trƣờng/khoa còn có thể có thêm thu nhập nhờ việc tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp), đồng thời nâng cao sự tín nhiệm của chính phủ và cộng đồng đối với các trƣờng ĐH và viện nghiên cứu nhƣ là một nguồn lực phát triển kinh tế “…các kết quả NCKH của các trường ĐH có thể làm tăng sự đầu tư của chính phủ và cộng đồng với tham vọng các trường ĐH sẽ tạo ra nhiều Thung lũng Silicon hơn nữa…” [101].
Các giáo sƣ (GS) ở những trƣờng ĐH hàng đầu Trung Quốc dành thời gian cho nghiên cứu nhiều hơn là giảng dạy. Một số lớn các GS và phó giáo sƣ (PGS) không dạy môn nào ở bậc ĐH [95]. Về tổ chức NCKH ở trường ĐH Đầu tiên phải kể đến cuốn sách "Foundations of American higher education" tập hợp các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về nền giáo dục ĐH Hoa Kỳ [99]. Những nghiên cứu đã đi từ khái quát những vấn đề vĩ mô nhƣ viễn cảnh của giáo dục ĐH trên phạm vi toàn thế giới nói chung, đến những vấn đề chi tiết trong quản trị ĐH nhƣ cơ cấu tổ chức, chƣơng trình, giáo trình, sinh viên, kiểm định chất 8 z lƣợng.
Những vấn đề đƣợc đề cập đến trả lời cho câu hỏi: Ai tiến hành các NCKH trong trƣờng ĐH? Các hình thức thế nào? Cách tổ chức và vấn đề tài chính cho NCKH? Ai sở hữu kết quả NCKH? Kiểm định chất lƣợng NCKH nhƣ thế nào? Những nguyên tắc chính thức/không chính thức hƣớng dẫn tiến hành NCKH?. Trong cuốn sách này có bài viết "Giáo dục ĐH và tổ chức NCKH ở Hoa Kỳ" [89] với nội dung tập trung nghiên cứu về hệ thống nghiên cứu ở ĐH cho thấy, ở Hoa Kỳ, các trƣờng ĐH nơi mà hai công việc giảng dạy và NCKH đƣợc tiến hành đồng thời, ở cùng một nơi và bởi cùng một ngƣời. Kết hợp việc đào tạo nghiên cứu sinh (NCS) với NCKH tạo ra hiệu quả kép: sản phẩm của NCKH và đào tạo nguồn nhân lực. Để thiết lập và tăng cƣờng mối liên hệ NCKH và đào tạo, về chi tiết, phần lớn kinh phí các đề tài nghiên cứu của trƣờng ĐH đƣợc tài trợ cho các thầy giáo đang hƣớng dẫn sinh viên, học viên và NCS tiến hành các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (PTN).
Tổ chức hệ thống NCKH ở Hoa Kỳ rất rộng, từ các tổ chức của chính phủ, của liên bang, các bang, của các ngành công nghiệp đến các tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận và các trƣờng ĐH. Trong số đó, các trƣờng ĐH luôn đƣợc ƣu tiên đầu tƣ kinh phí cho các nghiên cứu cơ bản chất lƣợng cao (high - quality basic researchs). Việc tổ chức NCKH trong các trƣờng ĐH dựa theo định hƣớng chuyên ngành, còn cấu trúc tổ chức cấp khoa để phục vụ các chƣơng trình giảng dạy. Nhóm nghiên cứu đƣợc tổ chức (organized research unit - ORU) là loại hình chiếm ƣu thế, là đơn vị học thuật nằm ngoài tổ chức của các khoa và không đào tạo chính thức (không cấp bằng).
ORU đƣợc tài trợ bởi ngân sách Chính phủ, các tập đoàn công nghiệp và các quỹ… đã mở rộng các nghiên cứu trong trƣờng ĐH theo hƣớng liên ngành, định hƣớng ứng dụng cao và tăng cƣờng lợi nhuận. Từ chỗ đƣợc tổ chức là đơn vị nghiên cứu, ORU đã có vai trò tích cực trong đào tạo nhƣ tài trợ học bổng, tạo cơ hội thực hành cho các sinh viên, hỗ trợ các luận án, kết nối giữa đào tạo lý thuyết và nhu cầu thực tế xã hội. Đào tạo sau ĐH và NCKH đã có ảnh hƣởng lẫn nhau, các tài trợ của các tập đoàn công nghiệp cho ORU với mục đích chính thức (formally) dành để nghiên cứu, lại có mục đích ẩn (informally) là tạo đƣợc nguồn nhân lực cho chính các tập đoàn đó. Các học bổng của ORU do tập 9 z đoàn tài trợ có thể coi là chính sách "cho vay" và sau khi tốt nghiệp sinh viên lại về làm việc cho tập đoàn đó.
Về đánh giá chất lượng NCKH Sanyal (2003) cho rằng để góp phần cải tiến chất lƣợng giảng dạy và nghiên cứu, các trƣờng ĐH phải tiến hành đánh giá thƣờng xuyên các mặt mạnh và mặt yếu liên quan đến các chƣơng trình giảng dạy và nghiên cứu, cần phải đƣa cả ban lãnh đạo và giảng viên vào quá trình thay đổi đó [1]. Trong quản lý NCKH, một số nƣớc phát triển nhƣ Hà Lan, Thụy Điển, Đức, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… đang thiết lập các hệ thống đánh giá để đảm bảo chất lƣợng của nghiên cứu và sử dụng phƣơng pháp đánh giá để quản lý chất lƣợng các công trình NCKH. Hệ thống các phƣơng pháp đánh giá này đã đƣợc hình thành trên cơ sở một “văn hoá đánh giá” và nền nếp quản lý KHCN nhất định với những chuẩn mực chung về KHCN trên thế giới [29]. Tại mỗi nƣớc, các tiêu chí có thể thay đổi, ví dụ ở Hà Lan sử dụng các tiêu chí: chất lƣợng khoa học (scientific quality) dựa trên giá trị của các ấn phẩm công bố của công trình nghiên cứu, hiệu suất khoa học (productivity) tính bằng số lƣợng ấn phẩm, kết quả đào tạo và các sản phẩm khác, tính phù hợp của nghiên cứu (relevance) đƣợc đánh giá qua đóng góp của công trình vào quá trình phát triển của lĩnh vực khoa học tƣơng ứng và khả năng phát triển (viability) của nghiên cứu trên cơ sở tầm nhìn và kế hoạch phát triển trong tƣơng lai, sự tiếp tục hỗ trợ về tài chính của các cơ quan quản lý… Hoa Kỳ áp dụng bộ luật GPRA (the Government Performance and Results Act) trong việc đánh giá các chƣơng trình khoa học cơ bản [31] theo các chỉ tiêu: chỉ tiêu đầu vào (input measure), chỉ tiêu đầu ra (output measure), chỉ tiêu về kết quả đạt đƣợc (outcome measure), chỉ tiêu đánh giá tác động (impact measure).
Việc đăng ký tuyển chọn đề tài ở Trung Quốc đƣợc thực hiện rất chặt chẽ trên cơ sở đấu thầu để lựa chọn đƣợc các tập thể nghiên cứu có năng lực và trình độ cao cùng với đề cƣơng nghiên cứu tốt, đặc biệt yêu cầu cá nhân đƣợc lựa chọn làm chủ nhiệm đề tài trong vòng 3 năm trở lại đây phải có các công trình nghiên cứu liên quan chặt chẽ đến đề tài. Cơ quan Đảm bảo chất lƣợng Australia đƣợc thành lập để giúp các trƣờng ĐH xây dựng các 10 z tiêu chuẩn đánh giá cho giáo dục và nghiên cứu. Na Uy cũng đã giới thiệu một hệ thống đánh giá liên quan đến cơ chế tài trợ dựa vào kết quả nghiên cứu [7]. Những nghiên cứu ở trong nước Trong những năm gần đây, NCKH đƣợc đánh giá là một trong những chức năng chủ yếu và quan trọng của trƣờng ĐH.
NCKH có vai trò rất lớn trong việc nâng cao chất lƣợng đào tạo ĐH nói chung, vì vậy vấn đề quản lý hoạt động NCKH trong các trƣờng ĐH đã đƣợc đặc biệt quan tâm.