CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về hệ sinh thái đất ngập nước 1. Khái niệm về hệ sinh thái đất ngập nước Tùy thuộc vào loại hình, phân bố và mục đích sử dụng khác nhau mà thuật ngữ ĐNN được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Hiện nay người ta có khoảng hơn 50 định nghĩa ĐNN đang được sử dụng.
Theo công ước Ramsar (1971) định nghĩa về ĐNN như sau: ĐNN được coi là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước dù tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hay từng thời kỳ, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, bao gồm cả những vùng biển mà độ sau mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không quá 6m. Theo chương trình quốc gia về điều tra ĐNN của Mỹ: “Về vị trí phân bố, ĐNN là vùng đất chuyển tiếp giữa những hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái thủy vực. Những nơi này mực nước ngầm thường nằm sát mặt đất hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nước nông” Theo các nhà khoa học Canada: “ĐNN là đất bão hòa nước trong thời gian dài, đủ để hỗ trợ quá trình thủy sinh. Đó là những nơi khó tiêu thoát nước, có thực vật thủy sinh và hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt” Theo các nhà khoa học New Zealand: “ĐNN là một khái niệm chung để chỉ những vùng đất ẩm ướt, từng thời kỳ hoặc thường xuyên.
Những vùng ĐNN ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất và nước. Nước có thể là nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn. ĐNN ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trưng bởi các loài thực vật và động vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ướt” Theo các nhà khoa học Australia: “ĐNN là những vùng đầm lầy, bãi lầy than bùn tự nhiên hoặc nhân tạo, thường xuyên, theo mùa hoặc theo chu kỳ, nước tĩnh hoặc nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, bao gồm cả những bãi lầy và những khu rừng ngập mặn lộ ra khi thủy triều xuống thấp”. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về ĐNN, tuy nhiên định nghĩa về ĐNN theo công ước Ramsar được nhiều người sử dụng nhất.
Ở Việt Nam, ĐNN rất đa 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dạng với diện tích khoảng 5.000 ha chiếm 8% diện tích Châu Á, tuy nhiên diện tích ĐNN ở nước ta đang bị suy giảm về diện tích và số lượng. Đặc trưng cơ bản của hệ sinh thái ĐNN so với các hệ sinh thái khác là - Nước tồn tại trong thời gian ngắn, độ sâu và thời gian ngập nước thay đổi nhiều giữa các vùng ĐNN. - ĐNN được phân bố ở vùng trung gian giữa nước sâu và phần đất cao ở đất liền và chịu ảnh hưởng của cả hai hệ thống. - ĐNN khác nhau về độ lớn, biến đổi từ những vũng nhỏ ở đồng cỏ khoảng một ha đến những ĐNN rộng hàng trăm km2.
- Sự phân bố ĐNN cũng biến động rất lớn, từ ĐNN nội địa đến ĐNN ven biển, từ những vùng nông thôn đến thành thị. - Điều kiện của ĐNN hoặc mức độ tác động nhân sinh cũng thay đổi lớn từ vùng này đến vùng khác, từ ĐNN này đến ĐNN khác. Định nghĩa ĐNN của Ramsar đã bao gồm tất cả các loại hình ĐNN của Việt Nam, chúng chiếm một phần không nhỏ của lãnh thổ: Các vùng biển nông, ven biển, cửa sông, đầm phá, đồng bằng châu thổ các sông suối, ao hồ, đầm lầy tự nhiên hay nhân tạo có diện tích hơn 2 ha, các vùng nuôi trồng thủy sản, canh tác lúa nước.đều thuộc loại ĐNN [16, 26]. Phân loại đất ngập nước ở Việt Nam Trên thế giới có nhiều cách phân loại ĐNN khác nhau: Có thể dựa vào khu cư trú của các loài chim nước, cảnh quan, theo hệ thống thứ bậc hoặc theo hướng địa mạo.
Trong phạm vi quy mô của một quốc gia ĐNN thường được phân loại theo thứ bậc. Tại Việt Nam, với mục tiêu quản lý, điều tra kiểm kê, đánh giá và lập quy hoạch ĐNN, đồng thời bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao. Bộ TNMT đã dự thảo về hệ thống phân loại ĐNN gồm 4 cấp: hệ phụ hệ lớp kiểu. - Hệ: Là bậc cao nhất trong hệ thống phân loại ĐNN.
Dựa vào mức độ nhiễm mặn (mặn, lợ, ngọt) các vùng ĐNN được chia ra thành hai hệ: 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Thứ nhất là hệ ĐNN mặn, lợ (ĐNN dải ven biển) là những vùng ĐNN chịu sự chi phối nước biển (độ mặn > 4%o) và vùng biển ven bờ (Độ sâu không quá 6m so với mực nước triều kiệt). + Thứ hai là hệ ĐNN ngọt là vùng ĐNN bị chi phối của nước ngọt (độ mặn < 4%o) - Phụ hệ: chia thành hai loại: Phụ hệ ĐNN tự nhiên được hình thành trong quá trình tự nhiên. Phụ hệ ĐNN nhân tạo được hình thành do tác động của con người. - Lớp: dựa vào chế độ thủy văn mỗi phụ hệ chia thành hai lớp.
+ ĐNN thường xuyên là những vùng luôn luôn bị ngập nước. + ĐNN không thường xuyên là những vùng ĐNN theo mùa, ngày, tháng do lũ lụt, thủy triều,. - Kiểu: là bậc nhỏ nhất trong hệ thống phân loại ĐNN Việt Nam được chia thành: + Kiểu ĐNN mặn, lợ: Vùng biển có độ sâu không quá 6m khi triều kiệt, vũng vịnh, thảm thực vật dưới triều, rạn san hô, đầm phá, vùng nước cửa sông, cồn ngầm cửa sông, cồn đảo cửa sông, bờ biển vách đá, vùng biển gian triều, Karst và hệ thống thủy văn ngầm biển và ven biển, vùng nuôi trồng thủy hải sản nước mặn, lợ, vùng trồng cói, vùng nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ ngập không thường xuyên, vùng làm muối. + Kiểu ĐNN nước ngọt: Sông suối có nước thường xuyên, hồ ao, bầu tự nhiên, suối, điểm nước nóng, nước khoáng, suối có nước theo mùa, vùng ngập nước có cây lớn chiếm ưu thế, vùng ngập nước có cây bụi chiếm ưu thế, đầm, bãi lầy, đồng cỏ, Karst và hệ thống thủy văn nội địa, vùng nuôi trồng thủy sản nước ngọt [26].
Khu vực Đồng Rui thuộc kiểu ĐNN mặn, lợ - cửa sông ven biển. Để phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng khôn khéo tài nguyên ĐNN, Tổng cục Môi trường - Bộ TNMT đã phân loại ĐNN ở Việt Nam thành 3 nhóm với 26 kiểu như sau [4]: Nhóm 1: ĐNN biển và ven biển (9 kiểu): Vùng biển nông ven bờ, thảm cỏ biển, rạn san hô, các vùng biển vách đá kể cả vùng biển ngoài khơi, bãi vùng gian 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triều, vùng nước cửa sông, RNM, đầm phá ven biển, Các-xtơ và hệ thống thủy văn ngầm biển và ven biển. Nhóm 2: ĐNN nội địa (8 kiểu): Sông suối có nước thường xuyên, sông suối có nước theo mùa, hồ tự nhiên, vùng đất than bùn có rừng, vùng ngập nước có cây gỗ chiếm ưu thế và ngập nước theo mùa, vùng ngập nước có cây bụi chiếm ưu thế và ngập nước theo mùa, suối điểm nước nóng - nước khoáng, hệ thống thủy văn ngầm các-xtơ và hang động nội địa. Nhóm 3: ĐNN nhân tạo (9 kiểu): Ao, hồ, đầm nuôi thủy sản nước mặn, lợ, ngọt, đồng cói, đất canh tác nông nghiệp, hồ chứa nước nhân tạo, sông đào, kênh, mương, rạch… 1.3 Vai trò của hệ sinh thái đất ngập nước ĐNN là hệ sinh thái quan trọng trên trái đất với độ đa dạng sinh học và năng suất sinh học cao, cung cấp cho con người những tài nguyên thiên nhiên quý giá.
Rừng ngập mặn với nhiều loại thực vật như: Trang, Đâng, Sú, Vẹt, Đước, Bần…có tác dụng ngăn sạt lở, hạn chế xói mòn, bão lũ, bảo vệ môi trường, hạn chế những tác động xấu của biến đổi khí hậu, duy trì hệ sinh thái, lọc sạch nước thải tự nhiên, điều hòa khí hậu, bảo vệ các giá trị văn hóa lịch sử, đồng thời cũng là nơi tham quan, giải trí, du lịch và nghiên cứu khoa học. ĐNN còn là nơi trú ngụ của nhiều động vật hoang dã như: chim, thú, lưỡng cư, bò sát, cá… góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học cho hệ sinh thái ĐNN. Hệ sinh thái ĐNN đem lại giá trị kinh tế cao. Theo kết quả nghiên cứu gần đây, giá trị kinh tế của các hệ sinh thái ĐNN ước tính lên tới 14,9 nghìn tỷ đô la Mỹ, chiếm 45% tổng giá trị của tất cả các hệ sinh thái trên toàn cầu.
Đây còn là nơi diễn ra chu trình thủy văn, hóa học và thu nhận các chất thải có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo [16]. Khu vực cửa sông ven biển có sự pha trộn giữa nước sông và nước biển hình thành nên vùng nước lợ (độ muối < 4%o) thích hợp cho nhiều loài sinh vật thủy sinh phát triển. Đây cũng là nơi hội tụ của các dòng vật chất bao gồm các chất dinh dưỡng từ các con sông đổ ra biển hay từ biển do thủy triều và hải lưu ven bờ đem 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Từ đó hình thành nên nguồn thức ăn quan trọng cho các loài tôm, cua, cá.
Khu vực cửa sông không chỉ là nơi tìm kiếm thức ăn mà còn là nơi cư trú, là bãi đẻ và di cư từ sông ra biển hoặc từ biển vào sông của các loài sinh vật thủy sinh, từ đó đã tạo nên nguồn lợi thủy hải sản có giá trị kinh tế cao, hết sức đa dạng và phong phú tạo sinh kế cho dân cư quanh vùng. Vì vậy, khu vực cửa sông thường là nơi tập trung dân cư sinh sống đông đúc. Với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, lượng chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa triệt để đổ ra sông, biển ngày càng nhiều đã tác động xấu đến môi trường nước tại khu vực này. Cửa sông ven biển là khu vực rất nhạy cảm với điều kiện tự nhiên, sự lên xuống của thủy triều, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, nuôi trồng và khai thác thủy hải sản quá mức, chặt phá rừng bừa bãi… đã làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường nước và suy giảm đa dạng sinh học càng trở nên nghiêm trọng.
Một số nghiên cứu về chất lượng môi trường nước và đa dạng thực vật nổi khu vực cửa sông ven biển 1. Trên thế giới.