Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa tại Việt Nam thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng của các khu dân cư tập trung, kéo theo khối lượng phát sinh nước thải sinh hoạt ngày càng lớn. Nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% tổng lưu lượng nước thải tại các đô thị và là một trong những nguyên nhân chính gây suy giảm chất lượng các nguồn tiếp nhận nước mặt cũng như nước ngầm. Tại thành phố Bắc Giang — đô thị trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Bắc Giang với mật độ dân cư tập trung cao, hệ thống thoát nước đô thị mới chỉ đáp ứng được 35,2% chiều dài đường phố. Hệ thống cống rãnh phần lớn là hệ thống chung cho cả nước mưa lẫn nước thải, trong khi nhiều khu vực ngoại thành vẫn tiêu thoát tự nhiên ra sông ngòi, kênh rạch và nguồn nước ngầm.

Nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt sông Thương và kiểm soát việc xả thải, nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Bắc Giang đã được xây dựng và đưa vào vận hành tại xã Tân Tiến từ tháng 9 năm 2010. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Khánh (chuyên ngành Khoa học môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) thực hiện đề tài "Đánh giá chất lượng và hiệu quả xử lý nước thải sinh hoạt của thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang" nhằm kiểm chứng hoạt động thực tế của hệ thống xử lý này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể như sau:

  1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  2. Tìm hiểu tổng quan về đặc tính nước thải sinh hoạt và các công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt đang được ứng dụng.
  3. Khảo sát mức độ xử lý ô nhiễm hữu cơ và các chất ô nhiễm chính trong nước thải sinh hoạt của thành phố Bắc Giang tại trạm xử lý thông qua các chỉ tiêu: pH, chất rắn lơ lửng (SS/TSS), nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh học (BOD5), phosphat ($PO_4^{3-}$), nitrat ($NO_3^-$), làm căn cứ cho việc điều chỉnh và vận hành hệ thống.
  4. Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng nguồn nước sau xử lý.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nước thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Bắc Giang.
  • Phạm vi không gian: Trạm xử lý nước thải thành phố Bắc Giang đặt tại thôn Ngò, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện trong giai đoạn từ tháng 05/2014 đến tháng 08/2014. Thời điểm quan trắc, thu mẫu phân tích thực nghiệm diễn ra vào ngày 22/06/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý và các tiêu chuẩn môi trường bắt buộc áp dụng tại Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu:

  • Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005 (được ban hành ngày 29/12/2005).
  • Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 (thông qua ngày 21/06/2012, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013).
  • Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải.
  • Thông tư liên tịch 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
  • Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-TW của Bộ Chính trị.
  • Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT về việc bắt buộc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt QCVN 14:2008/BTNMT.

Về cơ sở khoa học, tác giả tiếp cận các khái niệm tiêu chuẩn về nước thải theo TCVN 1980–1995 và ISO 6107/1–1980; phân loại nước thải theo nguồn phát sinh (sinh hoạt, công nghiệp, thấm qua, tự nhiên, đô thị) và theo nồng độ ô nhiễm (mạnh, trung bình, yếu dựa trên tài liệu của Metcalf & Eddy, 1979). Nghiên cứu phân tích các thành phần vật lý (các nhóm cặn lơ lửng, keo, hòa tan), thành phần hóa học (chất hữu cơ chiếm 58%, chất vô cơ chiếm 42%, tỷ lệ dinh dưỡng BOD:N:P trung bình 100:5:1) và thành phần sinh học gồm vi khuẩn, nấm men, mầm bệnh. Khóa luận cũng tổng quan các công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt trên thế giới (hấp phụ than hoạt tính, mô hình Johkasou tại Nhật Bản, công nghệ EF-BNR lọc Nano CMD tại Hàn Quốc, chu trình NEWater tái chế nước tại Singapore, xử lý bằng từ tính tại Israel) và ở Việt Nam (bể tự hoại cải tiến vách ngăn dòng hướng lên BASTAF của Trường Đại học Xây dựng, cụm hợp khối V69, công nghệ bùn hoạt tính OCO của Đan Mạch).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp cận tài liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng hạ tầng kỹ thuật từ UBND thành phố Bắc Giang, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Giang, Trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Giang và Niên giám thống kê năm 2013.
  • Phương pháp quan trắc, lấy mẫu: Lấy mẫu nước thải đầu vào và nước thải đầu ra tại trạm xử lý nước thải thành phố Bắc Giang vào ngày 22/06/2014 trong điều kiện thời tiết khô ráo, lưu lượng trạm hoạt động ổn định ở mức 9.000 $m^3$/ngày đêm. Mẫu được bảo quản lạnh theo đúng quy trình trước khi vận chuyển về phòng thí nghiệm.
  • Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Phân tích tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo các tiêu chuẩn:
    • Đo pH, độ đục, màu sắc, độ dẫn điện (EC), tổng chất rắn hòa tan (TDS) bằng máy đo đa chỉ tiêu cầm tay Hanna HI 9828/4 (Italia).
    • Nhu cầu oxy hóa học (COD): Xác định theo tiêu chuẩn TCVN 6491:1999 (ISO 6060:1989).
    • Nhu cầu oxy sinh học sau 5 ngày ($BOD_5$): Phân tích theo phương pháp cấy và pha loãng quy định tại TCVN 6001-1995 (ISO 5815-1989).
    • Hàm lượng nitrat ($NO_3^-$): Xác định bằng phương pháp trắc phổ sử dụng axit sunfosalixylic theo TCVN 6180-1996 (ISO 7890-3-1988).
    • Hàm lượng sunphua, sunphát: Xác định theo tiêu chuẩn TCVN 4567-1988.
    • Tổng chất rắn lơ lửng (TSS): Xác định bằng phương pháp sấy khô và cân khối lượng cặn.
  • Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý toán học, thống kê, tính toán hiệu suất khử ô nhiễm và biểu diễn dữ liệu bằng biểu đồ.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu nêu rõ sự cần thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng ô nhiễm nước mặt do tốc độ đô thị hóa nhanh tại thành phố Bắc Giang, nơi nước thải sinh hoạt chiếm tỷ trọng lớn nhưng hệ thống thu gom chưa đồng bộ. Tác giả xác định rõ mục đích, 4 mục tiêu cụ thể, 4 yêu cầu về tính chính xác, khách quan của số liệu và phân tích ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên nước tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết đầy đủ cơ sở pháp lý về bảo vệ môi trường, định nghĩa, phân loại nước thải và đặc trưng lý hóa của nước thải sinh hoạt. Tác giả phân tích tác hại của các chỉ tiêu ô nhiễm (BOD, COD tiêu hao oxy hòa tan gây yếm khí sinh mùi $H_2S, NH_3$; nitơ và phốt pho gây hiện tượng phú dưỡng hóa; các vi khuẩn gây bệnh lỵ, tả, thương hàn, sốt do Leptospira). Đồng thời, chương này đánh giá ưu và nhược điểm của các giải pháp kỹ thuật điển hình trong nước và quốc tế, như hệ thống Johkasou, bể kỵ khí BASTAF, cụm xử lý hợp khối V69 và công nghệ thùng sinh học OCO.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết về đối tượng nước thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Giang, vị trí trạm xử lý tại xã Tân Tiến, mốc thời gian thực hiện đề tài từ tháng 05/2014 đến tháng 08/2014. Tác giả xác lập khung 4 nội dung nghiên cứu chính và mô tả chi tiết phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, quy trình lấy mẫu, thiết bị đo hiện trường và hệ thống các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) áp dụng trong phân tích 7 chỉ tiêu lý hóa của nước thải.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương kết quả và thảo luận tập trung vào các nội dung dữ liệu thực tế:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Thành phố Bắc Giang có diện tích tự nhiên 6.677,4 ha, gồm 16 đơn vị hành chính (7 phường, 9 xã). Dân số năm 2013 là 150.080 người, mật độ đạt 2.248 người/$km^2$. Cơ cấu kinh tế năm 2013 gồm: công nghiệp chiếm 65,1%, thương mại - dịch vụ chiếm 27,56%, nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 7,34%; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 15,5%/năm. Thành phố có nhà máy cấp nước sạch công suất 25.000 $m^3$/ngày đêm, cùng 6.158 giếng đào và 175 giếng khoan. Hạ tầng thoát nước đạt 35,2% chiều dài đường đô thị, bao gồm 4,97 km cống hộp, 26,9 km cống ngầm, 46,32 km rãnh hở ngõ xóm và 40,71 km rãnh đan ngõ xóm.
  • Nguồn phát sinh và ảnh hưởng ô nhiễm: Trên địa bàn thành phố có 7 cụm công nghiệp và 6 làng nghề chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, xả thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước chung; nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư, bệnh viện, cơ sở dịch vụ xả ra gây ô nhiễm ao hồ nội thành và sông Thương, làm tăng nguy cơ dịch bệnh đường ruột và ký sinh trùng.
  • Công nghệ xử lý tại trạm xử lý nước thải thành phố Bắc Giang: Trạm xử lý vận hành từ tháng 9/2010 với công suất thiết kế tối đa 10.000 $m^3$/ngày đêm, ứng dụng công nghệ thùng sinh học OCO của Đan Mạch. Quy trình công nghệ bao gồm: Nước thải từ trạm bơm thu gom -> Song chắn rác/lưới lọc mịn tự động -> Bể tách cát và giếng tách dầu mỡ -> Thùng xử lý sinh học bùn hoạt tính OCO -> Bể lắng bùn -> Bể tiếp xúc khử trùng bằng khí Clo -> Trạm bơm xả ra sông Thương. Bùn lắng từ đáy bể được đưa về trạm bơm bùn, một phần hồi lưu lại thùng OCO, bùn dư được hòa trộn polymer và đưa qua thiết bị lọc ép khử nước trước khi vận chuyển đến bãi thải. Thùng OCO tích hợp 3 vùng chức năng:
    • Vùng 1 (Khoang kỵ khí trung tâm): Tiếp nhận nước thải và bùn hồi lưu, chọn lọc vi sinh vật tạo bông lắng tốt, giải phóng phốt pho và thủy phân chất hữu cơ.
    • Vùng 2 (Vùng thiếu oxy/anoxic): Khử nitrat ($NO_3^-$ thành $N_2$) bằng việc sử dụng chất hữu cơ làm chất khử.
    • Vùng 3 (Vùng ưa khí/aerobic): Nitrat hóa amoniac, oxy hóa triệt để các chất hữu cơ hòa tan và hấp thụ phốt pho vào sinh khối vi khuẩn.
  • Chất lượng nước thải và hiệu quả xử lý: Kết quả phân tích mẫu nước thải ngày 22/06/2014 tại lưu lượng 9.000 $m^3$/ngày đêm được trình bày chi tiết qua bảng đối chiếu dưới đây:
STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Nước thải đầu vào Nước thải đầu ra QCVN 14:2008/BTNMT (Cột B) Hiệu suất xử lý (%)
1 pH - 6,8 7,2 5 – 9 -
2 COD mg/L 880 163 Không quy định 81,5%
3 $BOD_5$ mg/L 385 48 50 87,5%
4 Nitrat ($NO_3^-$) mg/L 75,5 27,0 50 64,2%
5 Phosphat ($PO_4^{3-}$) mg/L 15,7 8,0 10 49,0%
6 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) mg/L 337 69 100 79,5%
7 Tổng chất rắn hòa tan (TDS) mg/L 1.064 453 1.000 57,4%

Các kết quả phân tích cho thấy nước thải đầu vào bị ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng ở mức cao, vượt quy chuẩn nhiều lần. Sau quy trình xử lý, các thông số ô nhiễm đều giảm sâu và đáp ứng quy chuẩn xả thải QCVN 14:2008/BTNMT Cột B.

  • Đề xuất giải pháp: Tác giả kiến nghị 3 nhóm giải pháp chính: xin kinh phí hoàn thiện hạ tầng mạng lưới thu gom riêng nước mưa và nước thải; mở rộng công suất xử lý của nhà máy và bảo đảm phương án vận hành khi mất điện; bổ sung hồ sinh học sau khử trùng để nâng chất lượng nước thải đạt QCVN 14:2008/BTNMT Cột A phục vụ tái sử dụng.

Phần 5: Kết luận, tồn tại, kiến nghị

Tác giả tóm kết khả năng làm việc ổn định của trạm xử lý nước thải Bắc Giang với công nghệ OCO trong việc loại bỏ chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng. Phần này chỉ ra các điểm tồn tại về quy mô thu gom và mức độ xử lý nước đầu ra (mới đạt Cột B), đồng thời tái khẳng định các kiến nghị nâng cấp công trình hồ sinh học và hoàn thiện hệ sinh thái thoát nước toàn thành phố.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng cụ thể chất lượng nước thải đầu vào, đầu ra và hiệu quả xử lý thực tế của Trạm xử lý nước thải thành phố Bắc Giang:

  • Giá trị pH chuyển dịch từ 6,8 ở đầu vào sang 7,2 ở đầu ra, duy trì trong dải tối ưu (6,5 – 8,0) cho hoạt động sinh hóa của bùn hoạt tính.
  • Nồng độ COD giảm từ 880 mg/L xuống 163 mg/L, đạt hiệu suất xử lý 81,5%.
  • Nồng độ $BOD_5$ giảm từ 385 mg/L xuống 48 mg/L (hiệu suất 87,5%), chuyển từ mức ô nhiễm vượt chuẩn 7,7 lần về dưới ngưỡng giới hạn của QCVN 14:2008/BTNMT Cột B (50 mg/L).
  • Các chỉ tiêu dinh dưỡng và chất rắn đều đạt giới hạn cho phép: Nitrat ($NO_3^-$) giảm từ 75,5 mg/L xuống 27 mg/L; Phosphat ($PO_4^{3-}$) giảm từ 15,7 mg/L xuống 8 mg/L; Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) giảm từ 337 mg/L xuống 69 mg/L; Tổng chất rắn hòa tan (TDS) giảm từ 1.064 mg/L xuống 453 mg/L.

Về mặt giải pháp, tác giả đưa ra các kiến nghị kỹ thuật gắn với thực tiễn địa phương:

  • Đề xuất các cấp quản lý bố trí kinh phí đầu tư xây dựng đồng bộ mạng lưới đường ống thu gom nước thải sinh hoạt tách rời khỏi hệ thống thoát nước mưa trên địa bàn toàn thành phố để thu gom triệt để nước thải đưa về trạm xử lý.
  • Mở rộng quy mô, nâng cao công suất nhà máy vượt mức thiết kế 10.000 $m^3$/ngày đêm nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng dân số, đồng thời xây dựng quy trình duy trì vận hành ổn định trong tình huống mất điện hoặc thời tiết cực đoan.
  • Bổ sung hệ thống hồ sinh học ở khâu sau xử lý khử trùng bằng clo để tiếp tục làm sạch nước thải tự nhiên trước khi xả ra môi trường, hướng tới mục tiêu đạt Cột A theo QCVN 14:2008/BTNMT, cho phép tái sử dụng nước cho mục đích cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu an toàn.

Đóng góp của nghiên cứu là cung cấp chuỗi số liệu thực nghiệm nguyên bản về chất lượng nước thải sinh hoạt đô thị loại III tại khu vực trung du phía Bắc; kiểm chứng hiệu quả vận hành thực tế của công nghệ thùng sinh học OCO (Đan Mạch) trong điều kiện vận hành tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế nhất định xuất phát từ điều kiện nghiên cứu thực tế được thể hiện trong văn bản:

  • Dữ liệu phân tích thực nghiệm dựa trên đợt lấy mẫu đơn lẻ vào ngày 22/06/2014 tại mức lưu lượng 9.000 $m^3$/ngày đêm, chưa theo dõi biến thiên chất lượng nước theo mùa (mùa mưa và mùa khô) hay theo các chu kỳ tải trọng xả thải khác nhau trong ngày và tuần.
  • Trạm xử lý nước thải mới chỉ tiếp nhận nước thải sinh hoạt của một bộ phận dân cư nội thành do hệ thống cống thu gom của thành phố chưa hoàn chỉnh; chưa xử lý được nước thải từ các cơ sở làng nghề và 7 cụm công nghiệp đan xen.
  • Chất lượng nước sau xử lý hiện chỉ đạt mức xả thải Cột B của QCVN 14:2008/BTNMT, chỉ dùng cho mục đích tưới tiêu nông nghiệp mà chưa đáp ứng các yêu cầu cao hơn để tái sử dụng làm nước sinh hoạt.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định trên cơ sở phạm vi đề tài:

  • Mở rộng quan trắc chuỗi thời gian dài, thực hiện lấy mẫu định kỳ nhiều đợt trong cả mùa mưa và mùa khô để đánh giá sự pha loãng của nước mưa tác động đến nồng độ ô nhiễm và hiệu suất của vi sinh vật bùn hoạt tính.
  • Nghiên cứu thiết kế, thử nghiệm mô hình hồ sinh học hoặc các bậc lọc tinh bổ sung phía sau bể khử trùng để nâng chất lượng nước xả đạt Cột A QCVN 14:2008/BTNMT.
  • Đánh giá khả năng thu gom và xử lý kết hợp hoặc tiền xử lý nước thải phát sinh từ các làng nghề và cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Bắc Giang trước khi đấu nối vào trạm xử lý tập trung.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo cho các đối tượng học thuật và kỹ thuật:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Cấp thoát nước khi thực hiện các đồ án, khóa luận về đánh giá chất lượng nước và thiết kế hệ thống xử lý nước thải đô thị.
  • Cán bộ kỹ thuật, kỹ sư vận hành tại các đơn vị thoát nước đô thị và trạm xử lý nước thải quan tâm đến công nghệ bùn hoạt tính kết hợp quá trình kỵ khí - thiếu khí - hiếu khí (công nghệ thùng sinh học OCO của Đan Mạch).
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất là mục thuyết minh nguyên lý cấu tạo 3 vùng chức năng của thùng sinh học OCO (khoang kỵ khí trung tâm, vùng thiếu oxy và vùng ngậm khí) và bảng số liệu phân tích đối chiếu 7 chỉ tiêu lý hóa đầu vào - đầu ra theo quy chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT.

Câu hỏi thường gặp

1. Trạm xử lý nước thải thành phố Bắc Giang được đặt ở đâu, hoạt động từ khi nào và có công suất vận hành là bao nhiêu?
Trạm xử lý nước thải được xây dựng tại thôn Ngò, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Công trình chính thức đi vào hoạt động từ tháng 9 năm 2010 với công suất thiết kế tối đa là 10.000 $m^3$/ngày đêm. Tại thời điểm tác giả khảo sát lấy mẫu (ngày 22/06/2014), lưu lượng nước thải vận hành ổn định của trạm đạt 9.000 $m^3$/ngày đêm.

2. Công nghệ xử lý sinh học áp dụng tại trạm xử lý nước thải thành phố Bắc Giang là công nghệ gì và có đặc điểm cấu tạo như thế nào?
Trạm áp dụng công nghệ xử lý sinh học bùn hoạt tính bằng thùng OCO xuất xứ từ Đan Mạch. Thùng OCO tích hợp 3 vùng chức năng: Vùng 1 là khoang kỵ khí trung tâm có bộ trộn chìm vận hành gián đoạn để loại bỏ phốt pho sinh học và tăng tính lắng của bùn; Vùng 2 là khoang thiếu oxy thực hiện quá trình khử nitrat; Vùng 3 là khoang hiếu khí (ngậm khí) có vách ngăn hình chữ C để oxy hóa các chất hữu cơ hòa tan, nitrat hóa amoniac và tích tụ phốt pho vào sinh khối.

3. Hiệu quả xử lý các chất hữu cơ và chất rắn của trạm xử lý nước thải đạt tỷ lệ bao nhiêu?
Dựa trên kết quả phân tích mẫu thực nghiệm ngày 22/06/2014:

  • Nhu cầu oxy hóa học (COD) giảm từ 880 mg/L xuống 163 mg/L, đạt hiệu suất xử lý 81,5%.
  • Nhu cầu oxy sinh học ($BOD_5$) giảm từ 385 mg/L xuống 48 mg/L, đạt hiệu suất xử lý 87,5%.
  • Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) giảm từ 337 mg/L xuống 69 mg/L, đạt hiệu suất xử lý 79,5%.
  • Tổng chất rắn hòa tan (TDS) giảm từ 1.064 mg/L xuống 453 mg/L, đạt hiệu suất xử lý 57,4%.

4. Nước thải sau khi qua trạm xử lý được xả ra nguồn tiếp nhận nào và chất lượng đạt quy chuẩn nào?
Nước thải sau quá trình khử trùng bằng khí clo được trạm bơm cống xả bơm ra hệ thống sông Thương để phục vụ sản xuất nông nghiệp và các mục đích dịch vụ khác. Chất lượng nước thải đầu ra đạt các tiêu chuẩn xả thải theo Cột B của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt QCVN 14:2008/BTNMT.

5. Tại sao tác giả đề xuất giải pháp bổ sung hệ thống hồ sinh học sau trạm xử lý?
Tác giả đề xuất bổ sung hệ thống hồ sinh học phía sau bể khử trùng vì hiện tại nước sau xử lý của nhà máy mới đạt Cột B QCVN 14:2008/BTNMT (chỉ phù hợp cho tưới tiêu nông nghiệp). Hồ sinh học đóng vai trò là công trình xử lý tự nhiên bổ sung nhằm xử lý triệt để hơn các chất ô nhiễm còn lại, giúp chất lượng nước đầu ra đạt Cột A QCVN 14:2008/BTNMT, qua đó có thể tái sử dụng cho các mục đích cao hơn như cấp nước sinh hoạt.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Khánh đã hoàn thành việc khảo sát hiện trạng hạ tầng thoát nước và đánh giá thực nghiệm chất lượng nước thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu khẳng định trạm xử lý nước thải tập trung xã Tân Tiến ứng dụng công nghệ thùng sinh học OCO đạt hiệu suất loại bỏ COD 81,5% và $BOD_5$ 87,5%, đưa toàn bộ các chỉ tiêu ô nhiễm đầu ra đạt quy chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT Cột B trước khi xả ra sông Thương. Đề tài cung cấp các luận cứ khoa học thực tế để địa phương tiếp tục đầu tư hoàn thiện mạng lưới thu gom riêng biệt, nâng cấp công suất trạm và áp dụng các bậc xử lý bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường nước.