MỞ ĐẦU 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Nước sạch là một nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của con người và đang trở nên cấp thiết đối với việc bảo vệ sức khoẻ và cải thiện sinh hoạt cho nhân dân, cũng như trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ở Việt Nam, khu vực nông thôn chiếm 75% dân số cả nước và nông nghiệp luôn là bộ phận quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân. Vào thời điểm năm 2000, Việt Nam vẫn còn hơn 70% dân số nông thôn sử dụng nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh: 50% số hộ nông thôn dùng nước giếng đào; 25% dùng nước sông, suối, hồ, ao; hơn 10% dùng nước mưa; và rất ít hộ được cấp nước bằng hệ thống đường ống.
Tình trạng ô nhiễm các nguồn nước tương đối nặng nề do sự buông lỏng trong quản lý vệ sinh môi trường và sử dụng phân tươi bón ruộng hay thuốc Bảo vệ thực vật trong nông nghiệp. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ phải “Cải thiện việc cấp thoát nước ở đô thị, thêm nguồn nước sạch cho nông thôn”. Tháng 8/2000, Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt tại Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg. Theo chiến lược này, mục tiêu đến năm 2020, tất cả dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia với số lượng tối thiểu 60 lít/người/ngày.
Huyện Vĩnh Hưng tỉnh Long An nằm ở trung tâm của vùng Đồng Tháp Mười, có hệ thống kênh rạch chằng chịt. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng nước sạch của người dân huyện Vĩnh Hưng hiện nay chưa tới 40 %. Trong khi chính quyền, ngành chức năng chưa tìm được giải pháp hiệu quả, thì việc kêu gọi tư nhân đầu tư phát triển mạng lưới cung cấp nước sạch cho bà con lại càng nan giải hơn, vì khó có khả năng thu hồi vốn. Đến nay, huyện Vĩnh Hưng cũng chưa có chính sách hiệu quả nào để thu hút tư nhân đầu tư đến kinh doanh lĩnh v ực cung cấp nước sạch cho người dân vùng sâu.
Ngoài ra, dân cư thưa thớt, địa hình khó khăn, chi phí đầu tư ban đầu lớn, nên các địa phương vùng sâu vùng xa càng có ít nhà đầu tư đến kinh doanh lĩnh v ực này. Phần lớn bà con phải phụ thuộc vào nguồn nước mưa và nước sông vốn đang bị ô nhiễm ngày càng cao. Trong khi đó, chất lượng nguồn nước máy cũng có r ất nhiều điều đáng bàn. Đó là lý do tại sao đề tài “ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN Ở HUYỆN VĨNH H ƯNG TỈNH LONG AN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN” được chọn và thực hiện, nhằm tìm ra các giải pháp hiệu quả và khả thi trong việc cấp nước sạch cho vùng nông thôn huyện Vĩnh Hưng.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt vùng nông thôn của huyện Vĩnh Hưng. Đề xuất các giải pháp hiệu quả và khả thi nhằm cải thiện nguồn nước cấp sinh hoạt cho huyện Vĩnh Hưng.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Khu vực nghiên cứu: Huyện Vĩnh Hưng - Tỉnh Long An. Thời gian nghiên cứu: Năm 2007. Đối tượng: Chất lượng nước sinh hoạt nông thôn.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Phương pháp thu thập thông tin, số liệu; Phương pháp khảo sát thực địa; Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu; Phương pháp phân tích mẫu; Phương pháp xử lý và phân tích số liệu; Phương pháp tổng hợp và tích hợp; Phương pháp chuyên gia.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Để đạt được các mục tiêu nêu trên, đề tài đã tiến hành các nội dung nghiên cứu sau đây: 1.
Thu thập các thông tin, số liệu về điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của Huyện Vĩnh Hưng Tỉnh Long An. Thu thập các số liệu đã có về chất lượng nước sinh hoạt nông thôn ở huyện Vĩnh Hưng. Khảo sát thực tế: Chụp hình minh họa. Phân tích mẫu chất lượng nước Sắt, clorua, pH, độ cứng, amoni, nitrit, nitrat, asen, DO, BOD 5 , coliform.
Đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt ở huyện Vĩnh Hưng tỉnh Long An. Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt nông thôn ở Huyện Vĩnh Hưng Tỉnh Long An. Đề xuất một số giải pháp quản lý và kỹ thuật – công nghệ nhằm cải thiện chất lượng nước sinh hoạt vùng nông thôn của huyện Vĩnh Hưng. Viết báo cáo tổng hợp.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC, HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG 1.
Ý nghĩa khoa học Đánh giá chất nước sinh hoạt nông thôn ở Huyện Vĩnh Hưng Tỉnh Long An bằng các chỉ tiêu vệ sinh về hóa lý và vi sinh vật để làm cơ sở giúp các nhà quản lý có thể hoạch định chính sách và lập kế hoạch cung cấp nước sạch cho từng vùng nông thôn. Hiệu quả kinh tế Giảm thời gian đi lấy nước của người dân, giúp họ dành thời gian cho sản xuất. Hạn chế các bệnh liên quan đến nước như: Tiêu chảy, thương hàn, giun sán, viêm gan…, bảo vệ sức khoẻ và sức lao động, tiết kiệm chi phí chữa bệnh. Giảm chi phí cho việc mua nước sinh hoạt của người dân ở vùng khó khăn về nước.
Hiệu quả xã hội Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn. Hình thành nếp sống văn minh, hợp vệ sinh, thu hẹp dần về sự chênh lệch về điều kiện sinh hoạt giữa nông thôn và đô thị, góp phần ổn định dân cư; hạn chế tình trạng mất vệ sinh đang phổ biến ở nhiều nơi. Hiệu quả về môi trường Khắc phục được cơ bản ô nhiễm môi trường nông thôn; khắc phục tình trạng khai thác, sử dụng bừa bãi, gây cạn kiệt, suy thoái tài nguyên nước. Giảm thiểu tình trạng ô nhiễm do phân người và chất thải chăn nuôi gây ra, góp phần làm đẹp cảnh quan, sạch đường làng ngõ xóm.
Tác động tích cực đối với các Chương trình khác: Như Y tế, Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Giáo dục - đào tạo hoàn thành mục tiêu của mình. Trạm xá, nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, trụ sở xã và các công trình phúc lợi công cộng khác sẽ hoạt động có hiệu quả hơn khi có đủ nước sạch. 3 Chương 2 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 2.
Vị trí địa lý Huyện Vĩnh Hưng nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An với diện tích tự nhiên 38.452 ha, chia thành 10 đơn vị hành chính (10 xã và 1 thị trấn): Xã Hưng Điền A, Xã Thái Trị, Xã Tuyên Bình, Xã Vĩnh Trị, Xã Tuyên Bình Tây, Xã Khánh Hưng, Xã Vĩnh Bình, Xã Thái Bình Trung, Xã Vĩnh Thuận và Thị Trấn Vĩnh Hưng. Ranh giới hành chính Huyện Vĩnh Hưng tiếp giáp Campuchia, phía Đông Nam giáp Huyện Mộc Hóa – Tỉnh Long An, phía Tây và Tây Nam giáp Huyện Tân Hưng - Tỉnh Long An. Bản đồ vị trí và hành chánh tỉnh Long An 4 2. Thổ nhưỡng Vĩnh Hưng nằm ở vùng sâu của Đồng Tháp Mười, hàng năm chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt.
Sự hình thành và phát triển KT - XH của Vĩnh Hưng gắn liền với quá trình khai thác đất hoang hóa, di dân xây dựng vùng kinh tế mới ở Đồng Tháp Mười. Nằm ở vùng chuyển tiếp giữa bậc thềm phù sa cổ với vùng thượng châu thổ ĐBSCL, với hai kiểu cảnh quan chính là bồn trũng phèn giàu nước mưa (trầm tích giàu Sulphur) và lòng các con sông cổ. Đặc trưng rõ nét nhất ở Vĩnh Hưng là khối đất xám dọc biên giới Campuchia và các sông cổ đã được bồi lắng, tạo nên đồng bằng trũng và các “lung” phèn. Trong phân vùng địa lý kinh tế của Tỉnh Long An, Vĩnh Hưng thuộc tiểu vùng 3 (gồm Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh).
Phương hướng phát triển kinh tế chủ yếu là Nông - Lâm nghiệp, mà hàng đầu là sản xuất lúa hàng hóa. Theo kết quả điều tra lập bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 năm 2000 của Phân viện Quy hoạch TKNN cho thấy: Toàn huyện có 2 nhóm đất với 6 đơn vị chú giải bản đồ đất; trong đó: nhóm đất xám có diện tích: 31.526 ha ( chiếm 81,99% DTTN) và nhóm đất phèn: 5. Như vậy, 100% diện tích đất thuộc loại “đất có vấn đề”, đây là một hạn chế của huyện Vĩnh Hưng. Tổng hợp diện tích các nhóm và loại đất ở huyện Vĩnh Hưng có thể phân loại như sau: 2.
Nhóm đất xám Diện tích: 31.526 ha, chiếm 81,99% DTTN, hình thành các giống cao phân bố ở hầu hết các xã trong huyện Vĩnh Hưng. Đất xám được hình thành trên vật liệu phù sa cổ nên thành phần cơ giới nhẹ (thịt nhẹ, thịt pha cát), độ phì thấp, nhất là ở các đỉnh giồng đã có biểu hiện bạc màu (nghèo dinh dưỡng). Để sử dụng đất xám cần chú ý 3 vấn đề: dinh dưỡng, tầng kết von và mức độ gieo để trồng chuyên lúa hoặc luân canh lúa với cây trồng cạn. Nhóm đất phèn Nhóm đất phèn có diện tích: 5.980 ha, chiếm 15,55% DTTN.
Đất phèn có trị số pH rất thấp và hàm lượng SO 4 2- cao (0,15-0,25%), đặc biệt là các ion Fe2+ và Al3+ dễ gây độc hại cho cây trồng. Vấn đề sử dụng đất phèn trong sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng cung cấp nước ngọt trong mùa khô. Đất phèn phân bố chủ yếu ở các xã: Vĩnh thuận, Vĩnh Trị, Thái Trị, Vĩnh Bình. Đặc điểm địa chất Đất đai của huyện Vĩnh Hưng hình thành từ hai loại trầm tích: Trầm tích phù sa non trẻ (Holocene) và trầm tích phù sa cổ (Pleistocene); trong đó chủ yếu là trầm tích phù sa cổ (Pleistocene).
5 Mẫu chất phù sa cổ bao trùm khoảng 84% DTTN nhưng đã bị trầm tích Holocene phủ trùm lên một diện tích không nhỏ. Mẫu chất này có tầng dày từ 3 - 5m, cấp hạt thường thô, tạo cho đất có cấp hạt cát là chủ yếu. Nên phần lớn đất hình thành trên phù sa cổ thuộc nhóm đất xám bị rửa trôi, chua, hoạt tính thấp và bị nhiễm phèn ngoại lai. Trầm tích Holocene bao phủ khoảng 14% DTTN của huyện, nó phủ trùm lên trầm tích phù sa cổ.
Đặc trưng cơ bản của đơn vị trầm tích này là sự có mặt của Sulfidic, vật liệu chủ yếu hình thành đất phèn. Trầm tích không phân chia khoảng 2% DTTN. Do vậy, khi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng cần tính toán đầu tư đảm bảo độ ổn định bền vững.