MỞ ĐẦU 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Khánh Hoà là một tỉnh ven biển Nam Trung bộ, có quần đảo Trường sa nằm ở điểm cực Đông Việt Nam. Tỉnh Khánh Hoà có bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, di tích lịch sử, văn hoá phong phú, đặc biệt là vịnh Vân Phong và bãi biển Nha Trang. Vịnh Nha Trang đã được công nhận là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới và có một hệ thống dịch vụ - du lịch khá hoàn hảo, đã đang và sẽ xây dựng.
Khu du lịch bắc bán đảo Cam Ranh sẽ trở thành một khu du lịch sôi động và cao cấp bên cạnh sân bay quốc tế Cam Ranh. Nguồn lợi biển phong phú, diện tích nuôi trồng thủy sản lớn cho phép phát triển mạnh ngành đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy, hải sản. Theo kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây ở các tỉnh ven biển miền Trung nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng, việc tăng cường và mở rộng nuôi trồng thủy sản, đang được xem là một giải pháp nhằm giảm bớt sức ép đến khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ, đã mang nhiều lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, mặt trái của nó là các tác động tiêu cực tới môi trường cũng đã diễn ra do sự phát triển thiếu quy hoạch, tự phát và trình độ dân trí chưa cao.
Bên cạnh đó nền công nghiệp của tỉnh Khánh Hoà cũng phát triển mạnh trong những năm gần đây. Chất thải từ các cơ sở như khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung cũng như riêng lẻ, ở gần các đầm và ven biển, bãi đậu thuyền cộng với hoạt động sinh hoạt hàng ngày thiếu ý thức bảo vệ môi trường của dân cư đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm cục bộ khá nghiêm trọng. Vì vậy chúng ta cần có các nghiên cứu để tìm hiểu hiện trạng các vực nước và xác định các nguyên nhân gây ô nhiễm. Kết quả các nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học cần thiết cho việc quy hoạch (các khu nuôi trồng, khu công nghiệp) và đề ra những giải pháp bảo vệ môi trường hữu hiệu.
Đó là tiền đề cho sự phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, hiện nay ở Khánh Hoà một số khu vực tập trung có nguy cơ bị ô nhiễm vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ như khu vực Cửa Bé, Nha Trang. Trên cơ sở đó tôi đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp với chủ đề: “Đánh giá hiện trạng chất lượng nước khu vực Cửa Bé, Nha Trang. Đề xuất giải pháp quản lý bảo vệ môi trường khu vực Cửa Bé.” trang: 6 Nhằm góp phần vào việc xác định cơ sở dữ liệu về hiện trạng môi trường nước của khu vực và có những đề xuất, trong công tác quản lý của khu vực náy.
Tuy nhiên, thời gian thực hiện đế tài chỉ có 3 tháng, kinh phí hạn và kinh nghiệm còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để báo cáo được hoàn thiện hơn. Hy vọng việc thực hiện đề tài này sẽ cung cấp được những thông tin có ích góp phần bảo vệ môi trường khu vực Cửa Bé nói riêng và vịnh Nha Trang. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Đánh giá hiện trạng chất lượng nước khu vực Cửa Bé (cửa sông Đồng Bò). - Để xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và các giải pháp quản lý chất lượng nước khu vực Cửa Bé.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Điều kiện tự nhiên khu vực Cửa Bé, Nha Trang. - Hiện trạng kinh tế – xã hội khu vực Cửa Bé, Nha Trang. - Đặc tính lý hóa học và vi sinh của môi trường nước khu vực Cửa Bé, Nha Trang. - Xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến môi trường chất lượng nước khu vực Cửa Bé - Đế xuất các biện pháp quản lý bảo vệ chất lượng nước khu vực Cửa Bé.
THỜI GIAN NGHIÊN CỨU Đề tài được thực hiện từ ngày 05/10/2006 đến ngày 31/12/2006. ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU - Khu vực Cửa Bé (cửa sông Đồng Bò) nằm ở phía tây nam vịnh Nha Trang: khảo sát, thu mẫu, thu thập số liệu, nghiên cứu. - Phòng Thủy Địa Hoá – Viện Hải Dương Học Nha Trang: phân tích mẫu, nghiên cứu xử lý số liệu và viết báo cáo. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Thẩm vấn cộng đồng: điều tra thông qua phỏng vấn các nhà quản lý và nhân dân địa phương tại khu vực nghiên cứu.
trang: 7 - Thu thập tài liệu, số liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu: các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, các hoạt động sản xuất quanh khu vực Cửa Bé được thu thập qua các cơ quan chuyên trách, chính quyền địa phương: phòng nông nghiệp và phát triển Nông Thôn. - Khảo sát thực địa, lựa chọn vị trí trạm thu mẫu (tham khảo các công trình nghiên cứu về khu vực Cửa Bé (cửa sông Đồng Bò) chưa và đã công bố). - Lấy mẫu và thực hiện đo đạc một số chỉ tiêu tại hiện trường. - Phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm.
- Thống kê và xử lý số liệu, vẽ biểu đồ. trang: 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CÁC VỰC NƯỚC VEN BỜ 2. TỔNG QUÁT VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VỰC NƯỚC VEN BỜ 2. NHỮNG ĐẶC TRƯNG VỀ ĐIỀU KIỆN SỐNG Các vực nước ven bờ (nhất là khu vực cửa sộng) có độ muối biến thiên trong phạm vi rộng từ < 1‰ đến hơn 30‰.
Tương tự, các yếu tố môi trường khác (nhiệt độ, độ trong suốt, hàm lượng các khí và muối dinh dưỡng…) cũng thay đổi nhiều theo không gian và thời gian. Vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh là nơi đang phát triển và đầy biến động (các hệ thống sông nước ta hàng năm chuyển ra biển hơn 830 tỷ m3 nước ngọt, lượng bùn cát trung bình 200 triệu tấn và trên 100 triệu tấn các chất hòa tan (Vũ Trung Tạng, 1994) nhưng lại là nơi cư trú của những quần xã sinh vật ổn định và có năng suất cao. Do hoạt động tương tác sông biển mà các yếu tố môi trường trước hết là nồng độ muối, biến động rất mạnh tạo ra một môi trường luôn bất ổn định theo thời gian và không gian. Trong hoàn cảnh như thế, vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh lại là nơi phân bố những quần xã sinh vật ổn định, thích nghi với điều kiện rất biến động của môi trường.
Vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh là nơi cư trú (habitat) bắt buộc đối với nhiều loài trong một giai đoạn nhất định của đời sống; thí dụ cá hồi phải chuyển vào cửa sông để sinh sản. Các vực nước ven bờ có tài nguyên đa dạng và phong phú, là nơi duy trì và phát triển nguồn lợi cho những vùng nước xa bờ. Nguồn lợi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong vùng: đó là các cơ thể động, thực vật sống trong các sinh cảnh đặc trưng như rừng ngập mặn, các bãi cỏ và rong tảo ngầm, trong các khối nước cửa sông, vũng vịnh, đầm, phá…. Thành phần các giống loài sinh vật rất đa dạng, nhóm sinh vật cửa sông chính thức và nhóm nước mặn rộng muối là cơ cấu chính của nguồn lợi vùng nước cửa sông (Vũ Trung Tạng, 1998).
Các nguồn lợi của các vực nước ven bờ được duy trì và phát triển nhờ vào nguồn dinh dưỡng được chuyển tải ra từ lục địa, từ các rừng ngập mặn kế cận và từ sự phát triển tại chỗ do sự phân hủy của thực vật phù du, các tảo và bãi cỏ ngầm. trang: 9 Do những điều kiện độc đáo của mình, vùng biển ven bờ trở thành nơi sống bắt buộc của một giai đoạn nhất định trong chu kì sống của nhiều loài giáp xác và cá, là bãi đẻ của nhiều động vật biển, bãi kiếm ăn và vỗ béo cho các đàn bố mẹ. Đương nhiên nơi này cũng trở thành vùng “tái sản xuất nguồn lợi”, duy trì sự ổn định đối với nguồn lợi của vùng khai thác xa bờ, một trong tổng thể duy nhất hệ sinh thái biển. Vùng cửa sông ven biển, đầm phá, vũng vịnh còn là nơi có tiềm năng cho sự phát triển nghề nuôi trồng thủy sản nước lợ và nuôi thả biển do: - Các bãi triều rộng, nhiều vụng vịnh nông, ít sóng gió với diện tích lớn (gần 0,5 triệu ha).
- Nguồn thức ăn tự nhiên đa dạng và giàu có. - Tập đoàn giống đa dạng về giống loài, phong phú về số lượng. - Nguồn năng lượng thủy triều tạo thuận lợi cho việc cung cấp nước, lấy giống và thức ăn, thay rửa đầm (Vũ Trung Tạng, 1998). CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ TRONG VÙNG BIỂN VEN BỜ Việt Nam là một quốc gia có vùng biển rộng lớn, bờ biển kéo dài trên 3 260km với nhiều đầm phá, vũng vịnh, cửa sông.
Nó là một vùng giàu có về tài nguyên đa dạng về nguồn lợi nên có tiềm năng phát triển nhiều ngành kinh tế như: khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy, du lịch và các hoạt động kinh tế khác. Khai thác thủy sản Ở các vực nước ven bờ trong đó có các đầm phá, vùng vịnh tập trung trên 20 kiểu hệ sinh thái. Đó là nơi cư trú tự nhiên, dự trữ thức ăn, ương nuôi ấu trùng, bãi sinh sản của nhiều loài động vật thuỷ sinh và là môi trường sống lý tưởng cho 90% các loài sinh vật xa bờ trong một giai đoạn phát triển của chúng. Vì thế nên vùng này có tính đa dạng sinh học cao, nguồn lợi thủy sản phong phú tạo điều kiện phát triển của hoạt động khai thác thuỷ sản (80% sản lượng thủy sản đánh bắt tập trung ở vùng này) (Nguyễn Chu Hồi, 2004).1 : Thống kê tàu thuyền và phương tiện đánh bắt tại một số thủy vực ven bờ miền Trung.
Tổng tàu thuyền và phương tiện Sản lượng Địa danh đánh bắt (tấn) Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh 4.826 ngư cụ, Thừa Thiên Huế 13.000 nhân lực 2 000 – 2 500 976 tàu thuyền, 757 ngư cụ, 600 Thị Nại, tỉnh Bình Định nhân lực 600 843 tàu thuyền, 725 ngư cụ, 2578 Vân Phong, tỉnh Khánh Hoà nhân lực 500 Nguồn: Bùi Hồng Long, 2002 2. Nuôi trồng thuỷ sản Vùng biển ven bờ nước ta có những vùng nước lợ rộng lớn, các vùng vịnh, đặc biệt là các đầm phá kín gió với độ đa khoảng 20 – 30m, có điều kiện môi trường thích hợp nên thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản ven bờ và cả nuôi biển. Dọc ven biển có khoảng trên 37 000ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản nước lợ mặn và 500000ha eo vụng, đầm phá có khả năng phát triển nuôi hải sản trên biển.