ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong mọi thời gian đất đai luôn là vấn được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân xã hội quan tâm, vì nó luôn gắn liền với lợi ích và những nhu cầu thiết thực của con người. Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Chính vì vậy mà đất đai có tầm quan trọng rất lớn, là vấn đề sống còn của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
Hơn nữa đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn về số lượng cố định về vị trí do vậy việc sử dụng đất phải tuân theo quy hoạch cụ thể và có sự quản lý hợp lý. Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của đất đai. Nhà nước ta đã xây dựng hệ thống chính sách về đất đai nhằm tăng cường công tác quản lý đất đai trên phạm vi cả nước như luật đất đai năm 2003, các pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Cùng các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm bảo vệ quyền và lợi ích pháp của người dân.
Công tác đăng ký cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất cũng là một trong những công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Nó xác lập quyền và nghĩa vụ đối với người sử dụng đất và là cơ sở để Nhà nước để thực hiện công tác quản lý đất đai. Tuy nhiên công tác cấp giấy chứng nhận còn gặp nhiều khó khăn, cần có biện pháp khắc phục nhanh chóng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất.
Đây là yếu tố góp phần quan trọng vào việc nắm chắc quỹ đất của từng địa phương giúp cho việc quy hoạch sử dụng hợp lý từng loại đất, tạo điều kiện cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất. Đăng ký, cấp GCNQSDĐ góp phần hoàn thiện hồ sơ địa chính, giúp cho việc nắm chắc quỹ đất cả về số lượng và chất lượng. n Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn cũng như tính cấp thiết của công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã Bản Ngoại. Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, và sự hướng dẫn của TS.
Phan Đình Binh em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ tại xã Bản Ngoại – huyện Đại Từ – tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013”. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã Bản Ngoại – Huyện Đại Từ – tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013. - Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của công tác đăng ký và cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã Bản Ngoại – Huyện Đại Từ – tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013. - Đề xuất những giải pháp thích hợp góp phần làm tăng tiến độ của công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã Bản Ngoại trong những giai đoạn tới.
Yêu cầu đề tài - Số liệu thu được phải đầy đủ, chính xác, phản ánh khách quan, trung thực; - Những phân tích, đánh giá phải dựa trên cơ sở pháp lý và tình hình chung; - Những giải pháp đưa ra phải phù hợp với địa phương và có tính khả thi. Ý nghĩa của đề tài * Đối với học tập - Việc hoàn thiện đề tài sẽ là cơ hội cho sinh viên củng cố kiến thức đã học trong nhà trường, đồng thời là cơ hội để sinh viên bước đầu tiếp cận với thực tế nghề nghiệp trong tương lai. - Cần nắm vững những quy định của pháp luật về cấp GCNQSDĐ theo Luật Đất đai 2003, hệ thống các văn bản dưới luật về đất đai của Trung ương và địa phương trong công tác cấp GCNQSDĐ. n * Đối với thực tiễn - Kiến nghị và đề xuất với các cấp có thẩm quyền đưa ra những giải pháp phù hợp để công tác cấp GCNQSDĐ nói riêng và công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn.
- Đề tài có ý nghĩa góp phần đẩy nhanh công tác cấp GCNQSDĐ ở xã Bản Ngoại - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn tới. n PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học trong công tác cấp GCNQSDĐ 2. Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Trong quá trình phát triển của xã hội loài người sự hình thành của một nền văn minh vật chất – văn hoá tinh thần, các thành tựu khoa học kỹ thuật đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất.
Ngày nay kinh tế xã hội ngày càng phát triển cùng với sự bùng nổ dân số thì nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng gia tăng đa dạng và phức tạp. Vì vậy để sử dụng đất đai một cách khoa học, tiết kiệm mang lại hiệu quả cao nhất thì Nhà nước phải có một chế độ chính sách về đất đai mang tính pháp lý, song phải hợp lý và chặt chẽ nhằm quản lý toàn bộ quỹ đất. Ở Việt Nam đối tượng của quản lý đất đai là toàn bộ diện tích các loại đất trong phạm vi ranh giới hành chính các cấp. Thực chất của việc quản lý Nhà nước về đất đai là công tác quản lý sao cho đúng quy định của Luật Đất đai.
Nhà nước quản lý đất đai thông qua các văn bản pháp luật, Nhà nước giao cho Uỷ ban nhân dân các cấp phải thực hiện việc quản lý đất đai trên toàn bộ ranh giới hành chính đối với tất cả các loại đất theo quy định của pháp luật. Để công tác quản lý cũng như vấn đề sử dụng đất đai mang lại hiệu quả cao nhất tại khoản 2 Điều 6 (Luật đất đai, năm 2003) [5] đã đề ra 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai như sau: 1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.
Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thống kê, kiểm kê đất đai. Quản lý tài chính về đất đai. Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. Thông qua 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai thì nội dung công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ là cơ sở để xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa nhà nước và người sử dụng đất.
Đây là cơ sở để nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sử dụng đất. Mặt khác cũng thông qua hoạt động này mà Nhà nước thực hiện quyền giám sát tình hình sử dụng đất đai của các chủ sử dụng theo đúng quy định của pháp luật. Đảm bảo cho việc sử dụng đất của các chủ sử dụng trên từng thửa đất tuân thủ theo đúng nề nếp kỷ cương pháp luật, tạo điều kiện để nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật. Điều mà chúng ta có thể thấy trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, thì hoạt động đăng ký cấp GCNQSDĐ có một vai trò hết sức quan trọng n và đây là một trong những hoạt động nắm chắc tình hình về đất đai.
Chính vì vậy thông qua hoạt động này chúng ta sẽ xác định và biết được thông tin của từng thửa đất và là cơ sở để quản lý các thông tin về đất đai trong hệ thống hồ sơ địa chính với đầy đủ các thông tin tự nhiên, kinh tế – xã hội, tình trạng pháp lý của từng thửa đất. Hệ thống các thông tin đó chính là sản phẩm kế thừa từ việc thực hiện các nội dung, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai. Đồng thời đây cũng là nội dung tiền đề và hướng tới hoàn thiện các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai khác như: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất, điều tra đo đạc, khảo sát, phân hạng, định giá đất, giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai… Thông qua nội dung này quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được đảm bảo. Muốn nắm chắc được tình hình sử dụng, số lượng, chất lượng của toàn bộ quỹ đất thì chúng ta phải làm tốt công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở.
Sơ lược về hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ 2. Hồ sơ địa chính Khái niệm về hồ sơ địa chính được quy định tại Điều 40 (Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004) [8] như sau: - Hồ sơ địa chính được lập chi tiết đến từng thửa đất theo đơn vị hành chính xã, xã, thị trấn. Mỗi thửa đất phải có số hiệu riêng và không trùng với số hiệu của các thửa đất khác trong phạm vi cả nước. - Nội dung của hồ sơ địa chính phải được thể hiện đầy đủ, chính xác, kịp thời, phải được chỉnh lý thường xuyên đối với các biến động theo quy định của pháp luật trong quá trình sử dụng đất.
- Hồ sơ địa chính phải được lập thành một (01) bản gốc và hai (02) bản sao từ bản gốc; bản gốc được lưu tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, một bản sao được lưu tại Văn phòng n đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, một bản sao lưu tại UBND xã, xã, thị trấn. Bản gốc hồ sơ địa chính phải được chỉnh lý kịp thời khi có biến động về sử dụng đất, bản sao hồ sơ địa chính phải được chỉnh lý phù hợp với bản gốc hồ sơ địa chính.