Luận án tiến sĩ y tế công cộng đánh giá can thiệp tăng cường kết nối tới điều trị hiv aids của người nhiễm hiv tại ninh bình năm 2015 2016

Luận án tiến sĩ phân tích y tế công cộng đánh giá can thiệp tăng cường kết nối tới điều trị hiv aids của người nhiễm hiv tại, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

241
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Can Thiệp Kết Nối Điều Trị HIV AIDS Ninh Bình

Nghiên cứu đánh giá can thiệp kết nối điều trị HIV/AIDS tại Ninh Bình giai đoạn 2015-2016, một vấn đề sức khỏe ưu tiên toàn cầu. HIV/AIDS gây gánh nặng bệnh tật lớn, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Đến cuối năm 2017, khoảng 35 triệu người đã tử vong vì AIDS và 36.9 triệu người nhiễm HIV trên toàn cầu. Tại Việt Nam, tính đến 30/6/2017, có 209,591 người nhiễm HIV còn sống, 90,190 bệnh nhân AIDS và 90,980 người tử vong. Dù số ca nhiễm mới giảm, Việt Nam vẫn có khoảng 10,000 ca nhiễm mới và 2,000-3,000 ca tử vong mỗi năm. Nghiên cứu này tập trung vào giai đoạn quan trọng từ khi phát hiện dương tính đến khi tiếp cận điều trị HIV vì điều này vô cùng quan trọng để có thể chăm sóc kịp thời, duy trì cuộc sống và giảm nguy cơ lây nhiễm HIV cho cộng đồng. Can thiệp tăng cường kết nối giúp tối ưu hóa nỗ lực mở rộng tư vấn xét nghiệm HIV và điều trị ARV.

1.1. Tầm quan trọng của kết nối điều trị HIV sớm

Việc tiếp cận sớm với điều trị sau khi biết tình trạng nhiễm HIV là vô cùng quan trọng. Người nhiễm HIV cần được chăm sóc kịp thời, duy trì cuộc sống và giảm nguy cơ lây nhiễm HIV cho cộng đồng. Khi tiếp cận cơ sở điều trị HIV, người nhiễm được đánh giá tình trạng sức khoẻ, theo dõi, quản lý và được điều trị kháng vi-rút (ARV) khi đủ điều kiện theo hướng dẫn quốc gia. Điều trị ARV có tác dụng ức chế sự nhân lên của vi-rút HIV và phục hồi chức năng miễn dịch, đảm bảo tuổi thọ không thua kém người bình thường.

1.2. Bối cảnh nghiên cứu tại Ninh Bình năm 2015 2016

Nghiên cứu được thực hiện tại Ninh Bình, một trong 10 tỉnh có tỷ lệ mới nhiễm cao nhất toàn quốc năm 2013. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng kết nối tới điều trị HIV, rào cản tiếp cận và hiệu quả của các giải pháp cải thiện tiếp cận điều trị sớm cho người nhiễm HIV. Thiết kế nghiên cứu triển khai qua 3 giai đoạn: đánh giá trước can thiệp (2014-2015), thực hiện can thiệp và đánh giá sau can thiệp (2016-2017).

II. Vấn Đề Tiếp Cận Điều Trị HIV AIDS Tại Ninh Bình 2014

Trước khi thực hiện can thiệp, việc tiếp cận điều trị HIV tại Ninh Bình gặp nhiều khó khăn. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tuân thủ và duy trì điều trị ARV. Giai đoạn từ phát hiện dương tính đến tiếp cận điều trị ít được quan tâm. Số liệu kết nối điều trị của người nhiễm trong vòng 6 tháng sau xét nghiệm dương tính, thời gian và tình trạng sức khỏe khi đăng ký điều trị được thu thập. Thông tin định tính từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được sử dụng để tìm hiểu các rào cản và đánh giá kết quả can thiệp. Thiếu các hoạt động kết nối hoặc kết nối không hiệu quả sẽ gây lãng phí nỗ lực mở rộng hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV và điều trị ARV, người nhiễm không hoặc chậm trễ trong việc điều trị, ảnh hưởng tới sức khoẻ và gia tăng nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng.

2.1. Thực trạng kết nối điều trị trước can thiệp năm 2014

Nghiên cứu sử dụng phương pháp theo dõi hồi cứu để thu thập thông tin về kết nối điều trị. Dữ liệu bao gồm thông tin về kết nối điều trị của người nhiễm trong vòng 6 tháng từ khi có kết quả xét nghiệm HIV dương tính, thời gian và tình trạng sức khoẻ khi đăng ký điều trị. Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm làm rõ rào cản kết nối và đánh giá kết quả can thiệp. Các hoạt động này nhằm tìm hiểu các rào cản kết nối điều trị và góp phần đánh giá kết quả can thiệp.

2.2. Các rào cản chính đến kết nối điều trị HIV AIDS

Kỳ thị, phân biệt đối xử và lo sợ lộ tình trạng bệnh là rào cản quan trọng nhất. Thiếu kiến thức và thông tin về điều trị HIV do tư vấn chưa hiệu quả. Hệ thống chuyển gửi thụ động, một chiều. Sự không hài lòng, không tin tưởng chất lượng dịch vụ tư vấn, xét nghiệm và điều trị HIV. Thiếu sự hỗ trợ từ nhóm đồng đẳng là những rào cản chính dẫn đến trì hoãn tiếp cận điều trị.

III. Phương Pháp Can Thiệp Tăng Cường Kết Nối Điều Trị HIV

Nghiên cứu triển khai các hoạt động can thiệp tập trung vào cải thiện kết nối người nhiễm tới điều trị, được chia làm ba nhóm chính. Đầu tiên, thử nghiệm chuyển gửi người nhiễm từ cơ sở tư vấn xét nghiệm HIV tới phòng khám ngoại trú qua phần mềm hệ thống tiếp cận thông tin y tế (ACIS). Thứ hai, tổ chức tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật cho cán bộ y tế (CBYT) về chuyển gửi, tư vấn xét nghiệm, bảo mật thông tin, điều trị HIV, chống kỳ thị liên quan đến HIV/AIDS. Cuối cùng, tiến hành tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật cho nhóm đồng đẳng viên/nhân viên tiếp cận cộng đồng về tư vấn điều trị HIV và chuyển gửi. Các hoạt động này được thiết kế để giải quyết các rào cản đã xác định trước đó và tăng cường hiệu quả của hệ thống chăm sóc HIV/AIDS.

3.1. Sử dụng phần mềm ACIS hỗ trợ chuyển gửi bệnh nhân

Phần mềm hệ thống tiếp cận thông tin y tế (ACIS) được thử nghiệm để chuyển gửi người nhiễm từ cơ sở tư vấn xét nghiệm HIV tới phòng khám ngoại trú. Mục tiêu là cải thiện tốc độ và hiệu quả của quá trình chuyển gửi, giảm thiểu thời gian chờ đợi và mất dấu bệnh nhân. Việc số hóa quy trình giúp quản lý thông tin tốt hơn và theo dõi tiến độ điều trị.

3.2. Nâng cao năng lực cho cán bộ y tế và đồng đẳng viên

Tập huấn cho cán bộ y tế (CBYT) bao gồm các nội dung: chuyển gửi bệnh nhân, tư vấn xét nghiệm, bảo mật thông tin, điều trị HIV và chống kỳ thị liên quan đến HIV/AIDS. Đồng thời, tập huấn cho nhóm đồng đẳng viên/nhân viên tiếp cận cộng đồng về tư vấn điều trị HIV và chuyển gửi bệnh nhân. Mục tiêu là nâng cao kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ y tế và cộng đồng, tạo môi trường hỗ trợ tốt hơn cho người nhiễm HIV.

IV. Kết Quả Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp Kết Nối Điều Trị

Sau can thiệp, tỷ lệ tiếp cận điều trị của người nhiễm trong 6 tháng tăng từ 52% lên 72.7% (p<0.05). Tỷ lệ người nhiễm vào điều trị ARV tăng từ 80% lên 93.8% (p<0.05). Tỷ lệ mất dấu sau đăng ký điều trị giảm từ 20% còn 6.3%. Thời gian từ khi có kết quả xét nghiệm dương tính tới khi tiếp cận điều trị giảm, trung vị thời gian giảm từ 7 xuống 3 ngày (p<0.05). Tuy nhiên, tình trạng sức khoẻ khi tiếp cận điều trị chưa cải thiện nhiều, tỷ lệ bệnh nhân đến điều trị ở giai đoạn lâm sàng muộn 3, 4 giảm nhẹ (từ 55% xuống 46%), trung vị số tế bào CD4 giảm từ 154 tế bào/mm3 còn 109 tế bào/mm3, cho thấy tình trạng tiếp cận muộn ở giai đoạn xét nghiệm HIV còn phổ biến. Đánh giá sau can thiệp cho thấy các giải pháp đều phù hợp và có ý nghĩa trong việc tăng cường tiếp cận điều trị sớm.

4.1. Tăng tỷ lệ tiếp cận điều trị và giảm thời gian chờ đợi

Tỷ lệ tiếp cận điều trị tăng đáng kể sau can thiệp. Thời gian từ khi xét nghiệm dương tính đến khi tiếp cận điều trị giảm, cho thấy hệ thống kết nối đã hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cần tiếp tục cải thiện để người nhiễm được điều trị ở giai đoạn sớm hơn, khi tình trạng sức khỏe còn tốt.

4.2. Cải thiện sự hài lòng và nhận thức về điều trị HIV

Các đánh giá định tính cho thấy sự hài lòng với dịch vụ và nhận thức về điều trị HIV của người nhiễm đã cải thiện rõ rệt. Người nhiễm cảm thấy được hỗ trợ tốt hơn và có thêm động lực để tuân thủ điều trị. Điều này góp phần quan trọng vào việc duy trì hiệu quả điều trị lâu dài.

V. Đánh Giá Tính Phù Hợp và Duy Trì Can Thiệp

Đánh giá sau can thiệp cho thấy các giải pháp cải thiện kết nối đều phù hợp và có ý nghĩa. Mức tăng tỷ lệ bao phủ ARV của người nhiễm trước-sau can thiệp cao hơn nhiều so với mức tăng của toàn quốc cùng thời điểm (18.5% và 10%). Thời gian từ khi xét nghiệm tới điều trị sau can thiệp ngắn hơn nhiều so với trước can thiệp (trung vị giảm còn 3 ngày so với 7 ngày) cho thấy ảnh hưởng tích cực của các giải pháp cải thiện. Các đánh giá định tính cho thấy sự hài lòng với dịch vụ và nhận thức về điều trị HIV người nhiễm đã cải thiện rõ rệt. Vai trò của nữ giới trong thúc đẩy tiếp cận điều trị sớm được nhấn mạnh, ngay cả với chồng/bạn tình.

5.1. Tính phù hợp của các giải pháp can thiệp được triển khai

Kết quả cho thấy các giải pháp can thiệp đều phù hợp và có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường tiếp cận điều trị sớm của người nhiễm HIV tại địa bàn can thiệp. Cần tiếp tục duy trì các giải pháp này để đạt hiệu quả bền vững. Mặc dù chưa đánh giá được mức độ tác động của từng can thiệp trong nghiên cứu tới sự gia tăng tỷ lệ tiếp cận điều trị của người nhiễm (52% lên 72,7%).

5.2. Khuyến nghị về tính duy trì và mở rộng can thiệp

Các giải pháp cần tiếp tục được thực hiện nhưng cần điều chỉnh về thiết kế, tổ chức để tăng tính thực thi và duy trì. Cân nhắc tích hợp các phần mềm chuyển gửi, điều trị và quản lý người nhiễm trong quá trình xây dựng hồ sơ quản lý sức khoẻ cá nhân, đồng thời đảm bảo tính bảo mật. Chuẩn hoá hoạt động tập huấn cho CBYT thành chương trình đào tạo liên tục và mở rộng đối tượng đào tạo.

VI. Bài Học Kinh Nghiệm Tương Lai Kết Nối Điều Trị HIV

Nghiên cứu rút ra bài học kinh nghiệm quan trọng về việc phối hợp các can thiệp khác nhau, từ công nghệ đến đào tạo, để tối ưu hóa hiệu quả. Bên cạnh đào tạo, nâng cao năng lực cho các nhóm hỗ trợ, nên huy động rộng rãi các đối tượng khác như người nhiễm, cộng tác viên y tế/nhân viên y tế thôn xóm, tình nguyện viên tham gia các nhóm hỗ trợ để tăng tính cam kết, mở rộng phạm vi và đảm bảo sự duy trì. Vai trò chỉ đạo của Sở Y tế rất quan trọng trong việc điều phối và ban hành các chính sách, giám sát, đánh giá để đảm bảo sự kết nối giữa các cơ sở cung cấp dịch vụ, các cấp quản lý và tuân thủ các quy định về đào tạo.

6.1. Vai trò của cộng đồng và chính sách trong duy trì kết nối

Cần huy động rộng rãi các đối tượng khác như người nhiễm, cộng tác viên y tế/nhân viên y tế thôn xóm, tình nguyện viên tham gia các nhóm hỗ trợ để tăng tính cam kết, mở rộng phạm vi và đảm bảo sự duy trì của hoạt động. Bên cạnh đó, cần vai trò chỉ đạo của Sở Y tế trong việc điều phối và ban hành các chính sách.

6.2. Hướng đi mới cho nghiên cứu và triển khai can thiệp

Trong tương lai, cần có các nghiên cứu sâu hơn về tác động của từng can thiệp cụ thể và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của chương trình. Cần chú trọng đến việc phát triển các công cụ và phương pháp đánh giá hiệu quả kết nối dịch vụ, đồng thời đảm bảo tính bền vững và khả năng mở rộng của các can thiệp.

27/05/2025
Luận án tiến sĩ y tế công cộng đánh giá can thiệp tăng cường kết nối tới điều trị hiv aids của người nhiễm hiv tại ninh bình năm 2015 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm/thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu 1.1 Tư vấn và xét nghiệm HIV: 1. Ý nghĩa và nguyên tắc tư vấn xét nghiệm HIV: Tư vấn và xét nghiệm HIV (TVXN HIV) là một thành tố quan trọng, là điểm đầu tiên của chu trình chăm sóc, điều trị liên tục và toàn diện cho người nhiễm.

Mở rộng tư vấn và xét nghiệm HIV sẽ mang tới cơ hội chẩn đoán và điều trị sớm hơn cho người nhiễm HIV đồng thời tối ưu hoá hiệu quả điều trị và dự phòng của chương trình điều trị [5]. - Tư vấn về HIV/AIDS là quá trình trao đổi, cung cấp các kiến thức, thông tin cần thiết về phòng, chống HIV/AIDS giữa người tư vấn và người được tư vấn nhằm giúp người được tư vấn tự quyết định, giải quyết các vấn đề liên quan đến dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV [6]. - Xét nghiệm HIV là việc thực hiện các kỹ thuật chuyên môn nhằm xác định tình trạng nhiễm HIV trong mẫu máu, mẫu dịch sinh học của cơ thể người [1]. Mọi hình thức tư vấn và xét nghiệm HIV đều phải tuân thủ nghiêm ngặt và đồng bộ 5 nguyên tắc: đồng thuận, bảo mật, tư vấn, chính xác và kết nối với chăm sóc, điều trị [5, 6].

Hình thức tư vấn xét nghiệm HIV: - Tư vấn xét nghiệm HIV do khách hàng đề xuất: là hình thức TVXN HIV do khách hàng chủ động tìm đến để được tư vấn và xét nghiệm HIV, có thể tại phòng TVXN HIV tự nguyện, cơ sở y tế, điểm tư vấn xét nghiệm HIV lưu động,. - Tư vấn và xét nghiệm HIV do cán bộ y tế đề xuất: Là hình thức tư vấn và xét nghiệm HIV do cán bộ y tế chủ động đề xuất với người đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế. Dịch vụ TVXN HIV thường được cung cấp tại cơ sở y tế, tuy nhiên cũng có thể được cung cấp tại cộng đồng, ngoài cơ sở y tế [4-6]. Quy trình tư vấn xét nghiệm HIV Theo quy định, tất cả các trường hợp làm xét nghiệm HIV đều phải được tư vấn trước và sau xét nghiệm.

Tất cả các hình thức TVXN HIV đều cần tuân thủ theo quy trình sau: - Tư vấn trước xét nghiệm - Thực hiện xét nghiệm HIV - Trả kết quả, tư vấn sau xét nghiệm (tuỳ theo kết quả dương tính/âm tính) - Chuyển gửi khách hàng tới các cơ sở dự phòng, và điều trị HIV/AIDS và các dịch vụ hỗ trợ liên quan khác theo nhu cầu/tình trạng sức khoẻ - Tư vấn hỗ trợ, theo dõi tiếp tục các trường hợp HIV dương tính [4-6]. Chẩn đoán nhiễm HIV: Một người được chẩn đoán nhiễm HIV khi có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính với HIV được thực hiện bởi các phòng xét nghiệm chuẩn thức quốc gia được Bộ Y tế cấp phép, theo đúng phương cách quốc gia như quy định [3, 5, 7]. Trong nghiên cứu này, bên cạnh thuật ngữ thường sử dụng phổ biến để nói về đối tượng đích của nghiên cứu là người nhiễm HIV, còn 1 số thuật ngữ khác cũng được sử dụng như: người có kết quả xét nghiệm HIV dương tính hoặc người được chẩn đoán dương tính với HIV nhằm nhấn mạnh mục đích của nghiên cứu là tăng cường tiếp cận sớm tới điều trị sau khi người nhiễm biết được tình trạng HIV của mình qua xét nghiệm, vì thực tế thuật ngữ người nhiễm HIV là nói chung, có người đã biết, có người chưa biết tình trạng HIV của mình. Điều trị HIV: Nguyên tắc chăm sóc và điều trị cho người nhiễm là liên tục và toàn diện (hình 1.

Người nhiễm khi phát hiện dương tính với HIV cần đến cơ sở y tế để được điều trị càng sớm càng tốt. Kể từ khi phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên, đến nay vẫn chưa có vắc-xin phòng hoặc thuốc chữa khỏi tình trạng nhiễm HIV nhưng điều trị bằng thuốc kháng vi-rút (gọi tắt là điều trị ARV) được chứng minh là liệu pháp tối ưu giúp cải thiện tình trạng sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nhiễm. Điều trị ARV là liệu pháp kháng vi-rút sao chép 9 ngược, sử dụng phối hợp ba hoặc nhiều loại thuốc kháng vi-rút để ức chế vi-rút và phải điều trị suốt đời. Mục đích của điều trị ARV là ức chế sự nhân lên của vi-rút và kìm hãm lượng vi trong máu ở mức thấp nhất; phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội từ đó cải thiện chất lượng sống và tăng khả năng sống sót cho người bệnh.

Thuật ngữ điều trị HIV và điều trị ARV thường được sử dụng có ý nghĩa tương tự vì mục đích quan trọng nhất của điều trị HIV là người nhiễm được tham gia, duy trì và tuân thủ lâu dài điều trị ARV [104, 106]. Khi tới các cơ sở điều trị HIV, người nhiễm được khám, đánh giá tình trạng sức khoẻ và nếu đủ tiêu chuẩn sẽ đưa vào điều trị ARV. Nếu chưa đủ tiêu chuẩn, người nhiễm sẽ được quản lý sức khoẻ, theo dõi và thăm khám định kỳ, đánh giá xem đã đủ tiêu chuẩn điều trị ARV chưa [4]. Tư vấn, Chăm sóc trước điều trị ARV Điều trị ARV XN HIV Đủ tiêu Đtrị ARV Đánh giá tiêu Bắt đầu ĐT ARV suốt đời Chẩn chuẩn đoán chuẩn ĐT Khách dương ARV: hàng tính - Giai đoạn LS với HIV -Định lượng CD4 Chưa Duy trì CS đến khi đủ TC đủ tiêu chuẩn ĐT ARV Kết nối Hình 1.

Quy trình chăm sóc và điều trị liên tục cho người nhiễm HIV 1. Tiêu chuẩn điều trị ARV: được quy định dựa trên 2 chỉ số chính là kết quả xét nghiệm số tế bào lympho T-CD4 và đánh giá giai đoạn lâm sàng của người 10 nhiễm theo phân loại của WHO (chi tiết xem phụ lục 7. Giai đoạn lâm sàng theo phân loại của WHO). Tiêu chuẩn để người nhiễm được bắt đầu điều trị ARV tại Việt Nam trong thời gian nghiên cứu như sau: • Giai đoạn trước can thiệp (1/2014-7/2015): tiêu chuẩn điều trị ARV được quy định theo quyết định 4139/QĐ-BYT ngày 02/11/2011 như sau: - Người nhiễm HIV có số lượng tế bào CD4 ≤ 350 tế bào/mm3 không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng hoặc, - Người nhiễm HIV ở giai đoạn lâm sàng 3, 4 không phụ thuộc số lượng tế bào CD4 [2].

• Giai đoạn sau can thiệp (từ tháng 7/2015-7/2017): tiêu chuẩn được mở rộng hơn theo quyết định 3047/QĐ-BYT ngày 22/7/2015: − Người nhiễm HIV có số lượng tế bào CD4 ≤ 500 tế bào/mm3 không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng hoặc, − Điều trị không phụ thuộc số lượng tế bào CD4 trong trường hợp: + Giai đoạn lâm sàng 3 hoặc 4 bao gồm cả mắc lao + Có biểu hiện của viêm gan B mạn tính nặng + Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú nhiễm HIV + Người nhiễm có vợ/chồng không bị nhiễm HIV + Người nhiễm HIV thuộc các quần thể nguy cơ gồm: tiêm chích ma tuý (TCMT), phụ nữ bán dâm (PNBD), nam có quan hệ tình dục đồng giới (MSM) + Người nhiễm HIV ≥ 50 tuổi + Người nhiễm HIV sinh sống, làm việc tại khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa [5]. Phòng khám ngoại trú HIV/AIDS (PKNT) là cơ sở có chức năng tiếp nhận người nhiễm HIV, quản lý, tư vấn, đánh giá trình trạng sức khoẻ và điều trị kháng HIV, điều trị/dự phòng nhiễm trùng cơ hội, theo dõi điều trị cũng như chuyển gửi các dịch vụ khác khi cần cho người bệnh. Các phòng khám ngoại trú được đặt tại một cơ sở y tế sẵn có của hệ thống y tế như trong bệnh viện (thường nằm trong 11 khoa lây hoặc khoa khám bệnh), trung tâm phòng chống HIV/AIDS (TTPC HIV/AIDS) tỉnh/thành phố, trung tâm y tế (TTYT) quận/huyện [4, 5]. Tiếp cận điều trị HIV: Theo Peters (2008), tiếp cận là việc sử dụng dịch vụ đúng lúc theo nhu cầu [78].

Theo Mariana Posse và cộng sự (2008), tiếp cận được định nghĩa là việc tham gia vào hệ thống y tế và duy trì quy trình điều trị. Tiếp cận được xác định bởi các đặc điểm của hệ thống và của quần thể có nguy cơ [81]. Trong nghiên cứu này, tiếp cận điều trị HIV được định nghĩa là việc người nhiễm HIV (có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính với HIV) đến các phòng khám ngoại trú để được tiếp nhận, khám, tư vấn và quản lý, theo dõi và điều trị ARV. Việc tiếp cận này được thể hiện thông qua việc người nhiễm có tên trong sổ đăng ký điều trị tại phòng khám, có thể là sổ đăng ký trước điều trị ARV hay sổ/bệnh án điều trị ARV.

Mất dấu sau chẩn đoán nhiễm HIV: Có nhiều định nghĩa khác nhau về mất dấu trong điều trị HIV [42, 50, 62]. Trong nghiên cứu này, mất dấu sau chẩn đoán nhiễm HIV là các trường hợp khách hàng quay lại nhận kết quả xét nghiệm và biết tình trạng nhiễm HIV nhưng không thực hiện chỉ định chuyển gửi đến cơ sở chăm sóc điều trị HIV (không đến PKNT). Kết nối từ chẩn đoán tới điều trị HIV: Thuật ngữ "kết nối (linkage) tới điều trị HIV" được sử dụng nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của tiếp cận điều trị sớm sau khi có kết quả xét nghiệm dương tính, đảm bảo tính liên tục của chu trình chăm sóc cho người nhiễm và tối ưu hoá hiệu quả của ARV trong điều trị và dự phòng [19, 63, 91, 106]. Chuyển gửi người nhiễm từ xét nghiệm tới điều trị HIV Trong phòng chống HIV, chuyển gửi (referal) và kết nối (linkage) là 2 thuật ngữ có ý nghĩa tương tự, trong đó, chuyển gửi góp phần kết nối người nhiễm tới điều trị thành công.

Chuyển gửi được định nghĩa là một quy trình trong đó những nhu cầu tức thời của khách hàng về dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ toàn diện được đánh giá và khách hàng được giúp đỡ để có thể tiếp cận dịch vụ, ví dụ tư vấn về điều trị, đặt hẹn khám hoặc hướng dẫn đi tới các cơ sở cung cấp dịch vụ. Chuyển gửi cũng có thể bao gồm các hoạt động theo dõi một cách phù hợp để hỗ trợ việc liên hệ giữa những đơn vị cung cấp dịch vụ và cung cấp phản hồi giữa khách hàng và đơn vị cung cấp dịch vụ. Những nỗ lực này nhằm giúp người nhiễm nhanh chóng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc y tế toàn diện, cần thiết, giảm mất dấu trong quá trình chuyển gửi [35, 48]. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chuyển gửi tập trung vào mối quan hệ từ dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tới phòng khám ngoại trú nhằm đảm bảo những người có kết quả xét nghiệm dương tính được tiếp cận điều trị HIV sớm nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đánh Giá Can Thiệp Kết Nối Điều Trị HIV/AIDS Tại Ninh Bình (2015-2016)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của các can thiệp trong việc kết nối điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS tại Ninh Bình trong giai đoạn 2015-2016. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các phương pháp can thiệp mà còn đánh giá tác động của chúng đến việc cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức nâng cao nhận thức và hỗ trợ cho cộng đồng trong việc phòng ngừa và điều trị HIV/AIDS.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn knowledge attitudes and practices regarding hiv aids prevention among pregnant women attending antenatal care at the setthathirath hospital in vientiane capital lao peoples democratic republic, nơi nghiên cứu về nhận thức và thực hành phòng ngừa HIV/AIDS ở phụ nữ mang thai. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn công tác can thiệp trợ giúp trẻ em có hiv aids tại trung tâm bảo trợ xã hội số 2 yên bài ba vì hà nội sẽ cung cấp thêm thông tin về các can thiệp hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về tình hình sử dụng thuốc ARV và tuân thủ điều trị HIV/AIDS qua tài liệu Trần thị lệ hằng phân tích tình hình sử dụng thuốc arv và tuân thủ điều trị của bệnh nhân tại phòng khám điều trị hivaids trung tâm bệnh nhiệt đới bệnh viện hữu nghị đa khoa tỉnh nghệ an luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến HIV/AIDS và các biện pháp can thiệp hiệu quả.