phần mở đầu, 42 điều, 2 bản phụ lục. Việt Nam đã ký công ước đa dạng sinh học vào tháng 10/1994 và đã trở thành thành viên thứ 99 của công ước này. Tất cả nội dung của công ước đưa ra 3 mục tiêu chính: + Bảo vệ đa dạng sinh học + Sử dụng bền vững đa dạng sinh học + Phân phối lợi nhuận của các sản phẩm mới lấy từ các loài hoang dại và các loài thuần dưỡng. Công ước buôn bán quốc tế các động thực vật nguy cấp (CITES) mà Việt Nam đã trở thành thành viên ngày 20 tháng 04 năm 1994.
Luật bảo vệ môi trường 29/11/2005 5. Nghị định 80/2003/NĐ – CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường. Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 7. Luật bảo vệ và phát triển rừng (có hiệu lực từ 1-4-2005) 8.
Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 04 năm 2002 về việc sửa đổi, bổ xung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành kèm theo nghị định số 18/HĐBT ngày 17 tháng 01 năm 1992 của hội đồng bộ trưởng quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ. Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm 10. Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học. Luật đa dạng sinh học đã được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008.
Khái niệm về cộng đồng Cộng đồng nói chung thường được hiểu là những nhóm người, được tập hợp dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp, theo huyết thống, theo tổ chức đoàn thể, v. Đối với đề tài này, cộng đồng ở đây là nhân dân địa phương; cộng đồng dân tộc Tày, Nùng, Kinh ở 3 xã Phong Nậm, Ngọc Côn, Ngọc Khê trong việc tham gia bảo tồn Vượn Cao Vít tại KBT loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Tuy nhiên cộng đồng được nói tới ở đây là một đơn vị cấp địa phương của một tổ chức xã hội bao gồm các cá nhân, gia đình, thể chế và các cấu trúc khác đóng góp cho cuộc sống hàng ngày của một xã hội, một nhóm người trong một khu vực địa lí xác định, có thể được biến đổi bởi quá trình vận động lịch sử. Hay nói cách khác, cộng đồng là tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục, tập quán, có quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và có ranh giới không gian trong một thôn bản.
Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là cộng đồng dân cư thôn bản” (sau đây “thôn bản” được gọi chung là “thôn’ cho phù hợp với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004). 10 Theo Điều 3, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 “cộng đồng dân cư thôn là tập hợp toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”. - Cộng đồng trong công tác bảo tồn ĐDSH: Trong lịch sử hình thành và phát triển của loài người, nhất là do nguy cơ tăng dân số và quá trình công nghiệp hóa, thế giới tự nhiên vốn đa dạng nay đang bị phá hoại, làm nghèo nàn, thậm chí nhiều giống loài bị tiêu diệt dẫn đến thuyệt chủng. Bởi vậy, một trong các vấn đề lớn của nhân loại trong thế kỷ 21 là phải bảo tồn và làm giàu trở lại thế giới tự nhiên vốn có.
Trong nhiều thập kỷ qua, chúng ta đã nhận thấy rằng các khu bảo tồn thiên nhiên, VQG có vai trò quan trọng trong toàn bộ việc quy hoạch đất đai và phát triển kinh tế của đất nước. Các khu bảo tồn đã đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân. Giá trị của các khu bảo tồn ngày càng được công nhận và có lẽ trong tương lai sẽ lớn hơn nhiều. Các khu bảo tồn không những là nơi lưu trữ các vật liệu thiên nhiên để phát triển công nghệ sinh học cho ngành y tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp mà còn giữ chức năng tự nhiên của các hệ sinh thái, bảo vệ đất đai, điều hòa khí hậu, chống lại sự thay đổi khí hậu toàn cầu và giúp con người thích nghi với một thế giới đang thay đổi (Meneely, 1996).
Mặc dầu các khu bảo tồn có tầm quan trọng như vậy, nhưng quản lý các khu bảo tồn quả thật không dễ dàng, nhất là đối với các nước đang phát triển. [10] Do vậy, một bài toán mà chúng ta cần phải giải là tạo nên sự gắn bó vốn đã có và phát huy vai trò và sự tham gia của mỗi cộng đồng cư dân vào việc bảo tồn các khu bảo tồn thiên nhiên, VQG. Phải coi việc phát triển xã hội toàn diện của cộng đồng, nhất là vấn đề bảo tồn và làm giàu bản sắc văn hóa của cộng đồng như là một bộ phận hữu cơ của việc bảo tồn các khu bảo tồn thiên nhiên, VQG. Không chỉ dừng lại ở mức tạo nên sự gắn kết giữa các cộng đồng cư dân với các khu bảo tồn thiên nhiên, VQG mà hơn 11 thế nữa trong nhận thức và hành động thực tiễn của chúng ta phải coi các cộng đồng cư dân cùng với các cơ quan chức năng của Nhà nước thực sự là người chủ của các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG ấy.
Việc lôi cuốn các cộng đồng địa phương vào việc quy hoạch và quản lý các khu bảo tồn là yếu tố cực kỳ quan trọng, bởi vì họ là những người hiểu biết tường tận nhất về việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên trong vùng. Vì vậy, họ là người quyết định cuối cùng và cần phải được tham gia vào các quá trình lập kế hoạch và thực hiện quản lý. Đến nay, cộng đồng dân cư các địa phương ở các vùng núi hầu như rất ít, thậm chí không quan tâm đến công tác quản lý tài nguyên nhiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên động vật hoang dã kể cả thú linh trưởng. Lý do khiến họ chưa quan tâm một phần vì lý do nhận thức, phần vì kinh tế khó khăn và phần quan trọng hơn là chưa tạo được động lực thúc đẩy họ tham gia.
Cho đến nay, đại đa số người dân trên mọi miền đất nước, đặc biệt là đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng cũng như sự cần thiết phải bảo tồn thú linh trưởng, Họ chỉ quan tâm đến việc tìm kiếm và làm thế nào khai thác nguồn tài nguyên này được nhiều nhất để phục vụ cho cuộc sống thường nhật của mình. Hơn nữa, do nền kinh tế tự cung tự cấp, an toàn lương thực chưa được đảm bảo nên các nhà quản lý địa phương thường có thiên hướng tìm mọi giải pháp phục hổi và tăng trưởng kinh tế mà chưa quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên nói chung và thú linh trưởng nói riêng. Chính vì vậy việc ưu tiên hàng đầu của họ là đầu tư phát triển mở mang nông, lâm trường, phá rừng lấy đất canh tác, tăng nguồn lương thực. Các hoạt động này đã dẫn đến việc thu hẹp về diện tích và suy giảm về chất lượng nơi sống của thú linh trưởng.
[12] Do hạn chế về nhận thức nên các hành vi ứng xử của cộng đồng dân cư đối với tài nguyên rừng kể cả tài nguyên linh trưởng chưa tốt. Để người 12 dân có hành vi ứng xử tốt với tài nguyên rừng nói chung và thú linh trưởng nói riêng, việc nâng cao nhận thức và thu hút sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý tài nguyên là rất cần thiết như thay đổi thái độ và tập quán của cộng đồng dân cư, cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng trên Thế giới Bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng là xu hướng đang được các nước trên thế giới quan tâm, áp dụng nhằm hài hòa các mục tiêu như: giá trị đa dạng sinh học và quản lý các Khu bảo tồn được đảm bảo; Cộng đồng dân cư quanh các khu bảo tồn được tham gia vào công tác bảo tồn, có trách nhiệm và được hưởng lợi từ đó; giảm được các xung đột giữa công tác bảo tồn với sinh kế và sự phát triển của cộng đồng dân cư. Một số mô hình đã thực hiện thành công như tại Philipin, Srilanka, Bawngladet, Thái Lan.
Theo một báo cáo của Liên đoàn Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union Conservation of Natural) (IUCN) công bố ngày 5/8/2008 có 48% trong số 643 loài động vật linh trưởng trên toàn cầu đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng, nguyên nhân do nạn phá rừng và săn bắn bừa bãi của con người. Bên cạnh những thông tin khá buồn trên, danh sách đỏ cũng ghi nhận được một số trường hợp bảo tồn thành công, trong đó có loài đười ươi vàng và đen của Brazil được phân loại từ tình trạng đe dọa nghiêm trọng xuống mức bị đe dọa. [35] Dự án Bảo tồn dựa vào cộng đồng có mục tiêu hỗ trợ 2 nước Việt Nam và Trung Quốc xây dựng các lĩnh vực nghiên cứu liên ngành trong sử dụng bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm đa dạng sinh học và các hệ sinh thái, thông qua việc tăng cường năng lực cho các cơ quan nghiên cứu tham gia trong dự án. Thông qua dự án này, một mạng lưới quốc tế về các vấn đề có liên quan tới quản lý bảo tồn và phát triển bền vững giữa các cơ quan nghiên cứu ở 3 nước Canada, Trung Quốc và Việt Nam được thiết lập nhằm tìm kiếm các giải pháp nâng cao nhận thức có sự 13 tham gia của cộng đồng.
Nâng cao nhận thức về vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn cho cán bộ địa phương thông qua các chuyên thăm quan nghiên cứu tại Canada. [36] Liên quan đến quản lý rừng và các tài nguyên rừng cũng nói lên hình thức lâm nghiệp xã hội, vì lâm nghiệp xã hội cũng là một phần trong công tác bảo tồn dựa vào cộng đồng. Sau đây là một số mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng trên thế giới.