Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghệ An sở hữu 82 km bờ biển với nhiều bãi tắm như Cửa Lò, Bãi Lữ - Cửa Hiền, Diễn Thành, Quỳnh Phương cùng hệ thống đảo Lan Châu, đảo Ngư, đảo Mắt. Trong bức tranh phát triển của tỉnh, du lịch biển đóng vai trò ngành kinh tế mũi nhọn khi thu hút tới 80% lượng khách và đóng góp 70% tổng doanh thu toàn ngành du lịch địa phương. Thị xã Cửa Lò được định vị là trung tâm kinh tế du lịch trọng điểm của Nghệ An, bình quân mỗi năm phục vụ khoảng 1 triệu lượt khách tắm biển, nghỉ dưỡng và mang lại doanh thu xấp xỉ 1.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về lượng khách và việc mở rộng các cơ sở lưu trú, nhà hàng, dịch vụ giải trí đang tạo áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng và môi trường tiếp nhận. Hàng ngày, một lượng lớn nước thải sinh hoạt và chất thải rắn chưa qua xử lý đồng bộ bị xả thải trực tiếp vào hệ thống mương rãnh rồi đổ ra biển. Tình trạng bê tông hóa tăng nhanh làm thu hẹp diện tích cây xanh, thảm thực vật tự nhiên và rừng phòng hộ ven biển. Hạ tầng cấp thoát nước của thị xã vẫn còn thiếu hụt; các phường như Nghi Thu, Nghi Thủy chưa có mương thoát nước và tuyến ống cấp nước sạch hoàn chỉnh. Hoạt động du lịch phát triển tự phát còn gây nguy cơ xói lở bờ biển do khai thác cát xây dựng và ảnh hưởng đến sinh kế đánh bắt hải sản truyền thống của ngư dân. Ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân và du khách vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

Trước thực trạng đó, đề tài được triển khai nhằm thực hiện mục đích: nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch biển tới môi trường thị xã Cửa Lò, từ đó đưa ra các biện pháp cải thiện chất lượng môi trường. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Đánh giá hiện trạng môi trường khu du lịch Cửa Lò.
  2. Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường.
  3. Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của du lịch biển đến môi trường.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Môi trường khu du lịch Thị xã Cửa Lò.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn Thị xã Cửa Lò, tập trung khảo sát thực địa tại 4 phường đại diện (Nghi Hải, Nghi Tân, Nghi Thủy, Nghi Hương) và dải bãi tắm ven biển.
  • Phạm vi thời gian: Thực tập và khảo sát thực địa từ ngày 05/5/2014 đến ngày 05/8/2014; chuỗi dữ liệu thứ cấp về kinh tế - xã hội, du lịch và môi trường được tổng hợp từ năm 2011 đến năm 2013.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thiết lập nền tảng lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành về môi trường, môi trường du lịch và môi trường du lịch tự nhiên (bao gồm môi trường địa chất, môi trường nước, môi trường không khí và môi trường sinh học). Khung lý thuyết phân tích tác động hai chiều giữa hoạt động du lịch và môi trường, vận dụng các khái niệm địa lý du lịch về mô hình du lịch 4S (Sun - Sea - Sand - Sex/Satisfaction) và tính mùa vụ đặc thù của du lịch vùng duyên hải. Về cơ sở pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển và Luật Du lịch Việt Nam, cụ thể là Khoản 21 Điều 4 (định nghĩa môi trường du lịch) và Điều 9 (quy định bảo vệ, tôn tạo môi trường du lịch xanh, sạch, đẹp, an toàn). Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nước biển ven bờ dựa trên Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 10:2008/BTNMT áp dụng cho vùng bãi tắm.

Khóa luận phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa văn bản, số liệu thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo quản lý từ UBND Thị xã Cửa Lò, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế thị xã Cửa Lò và Báo cáo tổng hợp kết quả quan trắc và phân tích môi trường tỉnh Nghệ An năm 2013 do Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường thực hiện.
  • Phương pháp quan sát thực địa: Quan sát nhịp độ hoạt động du lịch, tình hình vệ sinh cảnh quan bãi tắm trong mùa cao điểm, ghi nhận thực tế bằng hình ảnh và video tư liệu về hệ thống thoát nước, bãi rác và tình trạng sạt lở.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu: Triển khai phát 80 phiếu điều tra phỏng vấn nhanh tại 4 phường (Nghi Hải, Nghi Tân, Nghi Thủy, Nghi Hương) nhằm thu thập thông tin về lượng rác thải sinh hoạt, nguồn nước sử dụng và đánh giá ý thức bảo vệ môi trường của người dân, du khách và ban quản lý.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn của giảng viên hướng dẫn (TS. Nguyễn Chí Hiểu) và các cán bộ quản lý môi trường thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Cửa Lò.
  • Phương pháp xử lý phân tích số liệu: Tổng hợp, thống kê toán học và xử lý số liệu điều tra, quan trắc môi trường thông qua phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự bùng nổ của ngành du lịch biển Nghệ An và mâu thuẫn nảy sinh giữa tốc độ phát triển du lịch với nguy cơ suy thoái môi trường tại Cửa Lò. Phần này xác định rõ mục đích nghiên cứu, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa lý luận trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu khoa học môi trường và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở đề xuất biện pháp bảo vệ môi trường biển cho thị xã.

Phần 2: Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu

Chương này tổng kết lịch sử phát triển của du lịch biển từ thế kỷ XVIII đến giai đoạn bùng nổ sau Cách mạng Công nghiệp thế kỷ XIX. Phân tích xu hướng toàn cầu khi du lịch biển chiếm trên 70% lượng khách quốc tế và đóng góp tỷ trọng doanh thu cao nhất ngành du lịch. Đối với Việt Nam, kinh tế biển đặt mục tiêu đóng góp 50% GDP quốc gia đến năm 2020. Tác giả làm rõ nội dung tác động môi trường của du lịch:

  • Tác động tích cực: Thúc đẩy bảo tồn, cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị, nâng cao ý thức cộng đồng.
  • Tác động tiêu cực: Làm quá tải nguồn nước (khách nội địa tiêu thụ 100–150 lít/ngày, khách quốc tế tiêu thụ 200–250 lít/ngày so với mức 80 lít/ngày của cư dân bản địa); phát sinh chất thải (trung bình 0,67 kg rác thải rắn và 100 lít nước thải/khách/ngày); gây ô nhiễm không khí do khí thải phương tiện và khí làm lạnh CFCs; đe dọa rạn san hô, rừng ngập mặn và thảm thực vật ven biển; mâu thuẫn sinh kế với nghề cá truyền thống do cạnh tranh lao động và ô nhiễm nguồn lợi thủy sản ven bờ.
  • Tổng quan hệ thống giải pháp: Tổ chức quản lý liên ngành, giáo dục cộng đồng - du khách, thực thi Luật Du lịch và tăng cường hợp tác quốc tế.

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Văn bản xác định phạm vi không gian nghiên cứu tại Cửa Lò và thời gian thực hiện 3 tháng (05/5/2014 – 05/8/2014). Nội dung nghiên cứu gồm 4 hợp phần: (1) Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội thị xã; (2) Hiện trạng hoạt động du lịch biển Cửa Lò; (3) Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường chất thải rắn, môi trường nước, không khí, đất, đa dạng sinh học và sức khỏe người dân; (4) Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm. Phần này quy định cụ thể quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp, thiết kế mẫu điều tra 80 phiếu phỏng vấn tại 4 phường và kỹ thuật xử lý số liệu bằng bảng tính.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương trọng tâm trình bày toàn bộ dữ liệu khảo sát và phân tích thực nghiệm:

  • Điều kiện tự nhiên và hạ tầng: Cửa Lò có diện tích đất tự nhiên với 2 nhóm đất chính, trong đó đất xói mòn trơ sỏi đỏ chiếm 21 ha (0,75%). Khí hậu phân hóa thành mùa nóng (tháng 5–9, nhiệt độ trung bình 23,9°C, cao nhất 39,4°C) và mùa lạnh (tháng 10–4, trung bình 19,9°C, thấp nhất 6,2°C; lượng mưa trung bình 1.900 mm/năm). Dân số năm 2013 đạt 75.985 người (đô thị chiếm 67,8%), mật độ 1.852 người/km2; lực lượng trong độ tuổi lao động là 39.677 người (chiếm 53,01%). Hạ tầng gồm 124 km đường bộ (99,7 km trải nhựa/bê tông), nhà máy nước công suất 3.000 m3/ngày (dự kiến mở rộng 10.000 m3/ngày) và dự án thoát nước giai đoạn 1 do Bỉ tài trợ gần 100 tỷ đồng.
  • Hiện trạng du lịch: Giai đoạn 2011–2013 lượng khách tăng liên tục, năm 2011 đạt 1.034 ngàn lượt khách. Khách nội địa chiếm trên 99%, khách quốc tế chỉ dao động quanh ngưỡng 1%. Tính mùa vụ rất cao khi mùa du lịch hè đón từ 97% đến 100% lượng khách của cả năm. Đến cuối năm 2013, toàn thị xã có 248 cơ sở lưu trú; hệ thống vận chuyển đường thủy có 175 tàu du lịch, 125 ca-nô và 11 xuồng cứu hộ; duy trì tuyến xe buýt Cửa Lò - Vinh 16 chuyến/ngày và liên kết đưa 250 đoàn khách quốc tế về nghỉ mát.
  • Hiện trạng quản lý: Thị xã áp dụng quy chế "5 không" (không nâng ép giá; không đeo bám, chèo kéo; không tẩm quất, bán hàng rong; không làm tổn hại cảnh quan môi trường; không làm mất an ninh trật tự) và phương châm "6 nhất" (chuẩn bị chu đáo nhất; khách sạn nhà hàng đẹp nhất; vệ sinh môi trường sạch nhất; thái độ phục vụ tốt nhất; giá cả hợp lý nhất; kinh doanh hiệu quả nhất).
  • Đánh giá ô nhiễm và chất lượng môi trường: Tổng hợp số liệu phát sinh rác thải sinh hoạt bình quân 1,57 kg/người/ngày; tỷ lệ phân loại rác tại nguồn đạt 0%; tỷ lệ hộ dùng nước giếng khoan chiếm 51,4%; công bố kết quả quan trắc nước biển ven bờ năm 2013 cho thấy nồng độ Coliform, CN- và Fe vượt ngưỡng QCVN 10:2008/BTNMT.
  • Tác động sử dụng đất: Dự án sân golf Cửa Lò diện tích 133 ha (tổng mức đầu tư 1.500 tỷ đồng) phá hủy rừng phòng hộ và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tóm tắt các kết quả đạt được về tăng trưởng du lịch và chỉ ra những áp lực môi trường thực tế tại Cửa Lò do thiếu hạ tầng xử lý nước thải và tính mùa vụ tập trung. Kiến nghị chính quyền thị xã đẩy nhanh tiến độ các công trình xử lý chất thải tập trung, hoàn thiện hạ tầng cấp nước sạch, kiểm soát chặt chẽ quy hoạch ven biển và tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ môi trường đối với du khách và cộng đồng.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu công bố các chỉ số định lượng về khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình tại 4 phường điều tra, phản ánh mức độ xả thải cao hơn mặt bằng chung của các đô thị lân cận:

Phường điều tra Lượng RTSH (kg/người/ngày) Rác hữu cơ (%) Rác phi hữu cơ (%) Tỷ lệ phân loại tại nguồn (%)
Nghi Thủy 1,39 70 30 0
Nghi Tân 0,97 65 35 0
Nghi Hương 2,26 63 37 0
Nghi Hải 1,20 66 34 0
Trung bình chung 1,57 66 34 0

Mức phát sinh rác thải sinh hoạt bình quân 1,57 kg/người/ngày của Cửa Lò cao hơn mức 1,22 kg/người/ngày của thành phố Vinh. Với định mức này, toàn thị xã phát sinh khoảng 83 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày, nhưng 100% hộ gia đình không thực hiện phân loại rác tại nguồn.

Về môi trường nước, khảo sát 80 hộ dân cho thấy 51,4% hộ vẫn sử dụng nước giếng khoan (với phương pháp lọc thô sơ hoặc dùng trực tiếp) và chỉ có 48,6% số hộ sử dụng nước máy. Báo cáo quan trắc chất lượng nước biển ven bờ năm 2013 tại 5 điểm bãi tắm (B1 đến B5) đối chiếu với QCVN 10:2008/BTNMT ghi nhận nhiều thông số vượt ngưỡng cho phép:

Thông số Đơn vị Điểm B1 Điểm B2 Điểm B3 Điểm B4 Điểm B5 QCVN 10:2008 (Bãi tắm)
pH Thang pH 8,0975 8,0075 8,4050 8,0050 7,9475 6,5 – 8,5
BOD5 mg/l 19,250 16,425 14,500 11,675 15,000 –
NH4+ mg/l 0,4075 1,1675 1,3300 0,4925 0,4325 0,5
CN- mg/l 0,01125 0,00625 0,00500 0,00450 0,00410 0,0005
Fe mg/l 0,1850 0,20375 0,27375 0,3275 0,51875 0,1
Hg mg/l 0,00002 0,00007 0,00005 0,00030 0,00010 0,002
Coliform MNP/100ml 2.400 3.800 2.184 1.200 2.184 1.000

Kết quả cho thấy chỉ số Coliform vượt quy chuẩn tại tất cả 5 điểm quan trắc (dao động từ 1.200 đến 3.800 MNP/100ml so với chuẩn 1.000 MNP/100ml). Xyanua (CN-) vượt ngưỡng quy chuẩn từ 8,2 đến 22,5 lần (đạt 0,0041 – 0,01125 mg/l so với ngưỡng 0,0005 mg/l). Sắt (Fe) vượt quy chuẩn tại cả 5 vị trí (0,185 – 0,51875 mg/l so với ngưỡng 0,1 mg/l). Amoni (NH4+) vượt quy chuẩn tại điểm B2 (1,1675 mg/l) và B3 (1,33 mg/l).

Đánh giá ý thức bảo vệ môi trường qua điều tra xã hội học ghi nhận:

  • Khách du lịch: 65% đánh giá tốt, 27% bình thường, 8% chưa tốt.
  • Cư dân địa phương: 62% đánh giá tốt, 23% bình thường, 15% chưa tốt.
  • Ban quản lý khu du lịch: 83% đánh giá tốt, 17% bình thường, 0% chưa tốt.

Về mặt tích cực, hoạt động vệ sinh đô thị đã thu gom trên 25.000 m3 rác thải sinh hoạt hàng năm từ 7 phường và khu vực bãi tắm; quét dọn 14.259,2 ha đường phố lâm viên; sàng lọc cát trên diện tích 21.000 m2 bãi tắm; chăm sóc 1.523.280 m2 bồn hoa và 300.103 m2 thảm cỏ. Dải rừng phòng hộ ven biển diện tích 423 ha tại Nghi Hương và Nghi Hòa tiếp tục phát huy vai trò chắn gió bão, chống cát bay và ngăn mặn xâm thực.

Các giải pháp tác giả đề xuất:

  • Nhóm giải pháp quản lý nhà nước: Thực hiện quy hoạch phân vùng chức năng rõ ràng giữa khu bảo vệ và khu du lịch; hoàn thiện khung pháp lý và xử phạt nghiêm hành vi xả thải trái phép theo Luật Du lịch; đẩy nhanh tiến độ dự án thoát nước thải vốn ODA của Bỉ (giai đoạn 1 trị giá gần 100 tỷ đồng); nâng cấp trạm cấp nước từ 3.000 m3/ngày lên 10.000 m3/ngày; tiếp tục duy trì và siết chặt các chủ trương quản lý "5 không" và "6 nhất".
  • Nhóm giải pháp xã hội: Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức du khách và cộng đồng qua phương tiện truyền thông; áp dụng mô hình phân loại rác thải tại nguồn; thu phí vệ sinh môi trường tương xứng với lượng chất thải phát sinh từ các cơ sở kinh doanh ki-ốt, nhà hàng và khách sạn; huy động cộng đồng tham gia các chiến dịch làm sạch bãi biển.

Đóng góp tự nêu của khóa luận: Cung cấp bộ dữ liệu thực địa định lượng về lượng thải sinh hoạt, tỷ lệ sử dụng nước và mức độ ô nhiễm vi sinh, kim loại nặng trong nước biển ven bờ tại thị xã Cửa Lò giai đoạn 2011–2013. Kết quả phản ánh trung thực hiện trạng áp lực môi trường từ hoạt động du lịch mùa vụ, làm căn cứ thực tế cho công tác quản lý tài nguyên và môi trường của địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn nhỏ: Cỡ mẫu 80 phiếu khảo sát nhanh chỉ phân bổ tại 4 trong tổng số 7 phường của thị xã Cửa Lò.
  • Tính đại diện theo thời gian: Đợt thực tập và khảo sát thực địa diễn ra trong 3 tháng hè (từ 05/5/2014 đến 05/8/2014), là thời điểm cao điểm du lịch biển nên chưa theo dõi được sự biến thiên của chất lượng môi trường trong mùa đông thấp điểm.
  • Nguồn số liệu phân tích hóa lý: Dữ liệu quan trắc chất lượng nước biển phụ thuộc hoàn toàn vào số liệu thứ cấp của Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường Nghệ An thực hiện trong năm 2013, đề tài chưa tự tiến hành lấy mẫu và phân tích độc lập trong năm 2014.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung mở rộng dung lượng mẫu khảo sát trên toàn bộ 7 phường của thị xã; thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng nước và không khí liên tục cả mùa cao điểm và mùa thấp điểm; nghiên cứu tính toán sức chịu tải môi trường của bãi biển Cửa Lò để đưa ra giới hạn đón khách tối ưu.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Địa lý Du lịch và Quy hoạch Đô thị trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu đánh giá tác động môi trường của ngành dịch vụ du lịch.
  • Cán bộ quản lý môi trường và chính quyền địa phương tại các đô thị du lịch ven bờ: Tham khảo số liệu phát sinh rác thải sinh hoạt (1,57 kg/người/ngày), tỷ lệ phân loại rác và kết quả quan trắc nước biển ven bờ làm cơ sở lập kế hoạch thu gom rác và đầu tư hệ thống thoát nước.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến cơ chế quản lý trật tự xã hội và môi trường du lịch thông qua mô hình "5 không" và "6 nhất" đang áp dụng tại Cửa Lò.

Câu hỏi thường gặp

1. Chất lượng nước biển ven bờ tại bãi tắm Cửa Lò năm 2013 có những thông số nào vượt quy chuẩn QCVN 10:2008/BTNMT?
Theo kết quả quan trắc năm 2013 tại 5 điểm bãi tắm (B1 đến B5), có 4 thông số vượt ngưỡng quy chuẩn: chỉ số vi sinh Coliform vượt chuẩn tại toàn bộ 5 điểm (1.200 – 3.800 MNP/100ml so với chuẩn 1.000 MNP/100ml); Xyanua (CN-) vượt chuẩn tại cả 5 điểm (0,0041 – 0,01125 mg/l so với mức cho phép 0,0005 mg/l); Sắt (Fe) vượt chuẩn tại cả 5 điểm (0,185 – 0,51875 mg/l so với mức 0,1 mg/l); Amoni (NH4+) vượt chuẩn tại điểm B2 (1,1675 mg/l) và B3 (1,33 mg/l) so với ngưỡng giới hạn 0,5 mg/l. Các thông số pH và Thủy ngân (Hg) nằm trong ngưỡng an toàn.

2. Lượng chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình tại thị xã Cửa Lò phát sinh như thế nào và có sự phân loại tại nguồn không?
Kết quả khảo sát tại 4 phường cho thấy lượng rác thải sinh hoạt bình quân đạt 1,57 kg/người/ngày, cao nhất tại phường Nghi Hương (2,26 kg/người/ngày) và thấp nhất tại Nghi Tân (0,97 kg/người/ngày). Thành phần rác gồm 66% chất thải hữu cơ và 34% chất thải vô cơ. Toàn bộ 100% hộ gia đình được phỏng vấn (tỷ lệ 0%) không thực hiện phân loại rác tại nguồn.

3. Hiện trạng sử dụng nguồn nước sinh hoạt của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu ra sao?
Khảo sát 80 phiếu điều tra tại 4 phường ghi nhận có 51,4% hộ gia đình (41 phiếu) vẫn sử dụng nước giếng khoan thông qua các biện pháp lọc đơn giản hoặc dùng trực tiếp; chỉ có 48,6% hộ (39 phiếu) được tiếp cận và sử dụng hệ thống nước máy từ nhà máy nước thị xã. Tỷ lệ sử dụng nước mưa bằng 0%.

4. Dự án du lịch quy mô lớn nào tại Cửa Lò được văn bản chỉ ra có tác động đáng kể đến tài nguyên đất và rừng phòng hộ?
Đó là dự án sân golf, khách sạn và biệt thự cao cấp của Công ty Cổ phần Golf Biển Cửa Lò với diện tích 133 ha và vốn đầu tư 1.500 tỷ đồng. Dự án này chiếm dụng diện tích đất lớn, làm suy giảm diện tích rừng phòng hộ ven biển và tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm đất, nước ngầm do sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật để chăm sóc cỏ sân golf.

5. Chính quyền thị xã Cửa Lò đã ban hành những quy chế quản lý nào để bảo vệ cảnh quan và văn hóa du lịch?
UBND thị xã Cửa Lò đã triển khai chủ trương "5 không" (không nâng ép giá; không đeo bám, chèo kéo; không tẩm quất, bán hàng rong; không làm tổn hại cảnh quan môi trường; không làm mất an ninh trật tự) và phương châm "6 nhất" (chuẩn bị chu đáo nhất; khách sạn nhà hàng đẹp nhất; vệ sinh môi trường sạch nhất; thái độ phục vụ tốt nhất; giá cả hợp lý nhất; kinh doanh hiệu quả nhất).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Khánh Sinh đã phản ánh toàn diện bức tranh môi trường thị xã Cửa Lò dưới sức ép của hoạt động phát triển du lịch biển giai đoạn 2011–2013. Công trình làm rõ mâu thuẫn giữa mức tăng trưởng kinh tế du lịch theo mùa vụ với tình trạng quá tải hạ tầng kỹ thuật, minh chứng qua khối lượng phát sinh rác thải sinh hoạt cao (1,57 kg/người/ngày) và hiện tượng nước biển ven bờ bị ô nhiễm vi sinh (Coliform), kim loại nặng (Fe) và xyanua (CN-). Các kiến nghị hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý nước thải và tăng cường quản lý quy hoạch ven bờ do tác giả đề xuất là cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ định hướng phát triển bền vững du lịch biển tại địa phương.