Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KINH TẾ MIỀN BẮC TRONG ĐIỀU KIỆN CẢ NƯỚC CÓ CHIẾN TRANH (1965 -1968) 1.Thắng lợi của công cuộc xây dựng kinh tế ở miền Bắc(1954 - 1964) 1. Tình hình đặc điểm của miền Bắc trước khi bước vào thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Chiến thắng Điên Biên Phủ đã đập tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc thực dân Pháp phải ký kết hiệp định Giơ ne vơ chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của chúng ở Việt Nam và Đông Dương. Theo Hiệp định, nước ta tạm chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Song với dã tâm xâm lược, đế quốc Mỹ đã bội ước Hiệp định, gạt thực dân Pháp để độc chiếm miền Nam, dựng lên chế độ tay sai với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự khổng lồ nhằm ngăn chặn và tấn công vào chủ nghĩa xã hội, vào phong trào giải phóng dân tộc ngày càng phát triển trên thế giới.
Việt Nam trở thành nơi tập trung sự chú ý của dư luận, là nơi tập hợp lực lượng của những dòng thác cách mạng của thời đại. Cách mạng Việt Nam đứng trước những nhiệm vụ mới. Miền Bắc đã hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân, định hướng phát triển lên chủ nghĩa xã hội. Song, hậu quả của cuộc chiến tranh để lại hết sức nặng nề trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Năm 1954, giá trị tổng sản lượng công nghiệp chỉ chiếm 1,5% giá trị tổng sản lượng công nông nghiệp, sản xuất công nghiệp bị đình đốn, hàng vạn người bị thất nghiệp, đội ngũ trí thức hạn chế về số lượng, giao thông vận tải bị tàn phá nghiêm trọng, nạn đói xảy ra gay 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gắt ở một số địa phương. Mặc dù, kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu, nhưng sản xuất nông nghiệp cũng gặp rất nhiều khó khăn. Phương thức sản xuất trong nông nghiệp vốn đã lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá lâu dài và nặng nề, hơn 143.000 héc ta ruộng đất bị bỏ hoang, hàng chục vạn con trâu, bò bị giết. Máy móc, công cụ vô cùng thiếu thốn.
Thiếu sức kéo, phân bón, hệ thống đê điều bị hư hại nhiều, 8 công trình đại thuỷ nông và những công trình thuỷ nông vừa và nhỏ bị phá huỷ. Nông thôn sơ xác tiêu điều vì bị địch càn quét, đốt phá. Gần một triệu đồng bào công giáo bị địch dụ dỗ, cưỡng ép di cư vào Nam, để lại hàng chục ngàn héc ta ruộng bị bỏ hoang. Các tệ nạn xã hội, những hủ tục lạc hậu, tàn dư của chế độ thực dân phong kiến chưa được xoá bỏ.
Trình độ học vấn của nhân dân thấp, nhiều người chưa biết đọc, biết viết, đặc biệt là ở các vùng dân tộc ít người, các vùng xa. Hệ thống y tế nhỏ yếu và lạc hậu. Năm 1955, hơn 13 triệu dân ở miền Bắc mới có 78 cơ sở điều trị, với 115 bác sĩ, 3. Bên cạnh đó, ở miền Bắc các thế lực thù địch đang ra sức chống phá sự nghiệp cách mạng.
Ở một vài vùng nông thôn, một số địa chủ ngoan cố ngóc đầu dậy, mưu toan xoá bỏ thành quả cải cách ruộng đất, đặc biệt là khi Đảng ta phát hiện và sửa chữa những sai lầm về cải cách ruộng đất và về chỉnh đốn tổ chức, tiến hành quản lý kinh tế, chính sách quản lý hộ khẩu….Bọn phản động đội lốt thầy tu hoạt động tuyên truyền chống chế độ. Chúng gây ra những hiện tượng lộn xộn ở một số nơi như: Lưu Mỹ (Nghệ Tĩnh), Hà Nam Ninh, Thái Bình, Ba Làng (Thanh Hoá)…Trên vùng rẻo cao miền núi, bọn phản động xưng vua và tiến hành những hoạt động thổ phỉ ở miền núi phía Bắc. Một số nhóm người cho xuất bản báo “Nhân Văn” và tạp chí “Giai phẩm”, để truyền bá, kích động gây bạo loạn, làm chệch hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã đưa vào một khối lượng rất lớn vũ khí trang bị và các phương tiện chiến tranh.
Chúng gấp rút xây dựng một hệ thống căn cứ và công trình quân sự, bao gồm các sân bay, bến cảng, hệ thống đường chiến lược, hệ thống thông tin liên lạc và kho tàng, nhằm biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự khổng lồ, thực hiện âm mưu chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng. Đồng thời, với chính sách „Tố cộng, diệt cộng” thi hành luật phát xít 10/59, đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình Diệm đã thẳng tay chém giết những người cộng sản, những người kháng chiến cũ và mọi người dân yêu nước. Đứng trước tình hình trên của cách mạng miền Nam, nhân dân miền Bắc vừa tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chi viện cho cách mạng miền Nam. Đây là nét đặc thù của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong suốt 10 năm (1954 -1964) và cả những năm sau này của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tình hình cách mạng thế giới có những phát triển mới, tác động trực tiếp đến cách mạng Việt Nam với những thuận lợi và khó khăn. Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới ngày càng phát triển vững mạnh, tạo nên chỗ dựa vững chắc và sự hợp tác nhiều mặt đối với nước ta. Hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế họp tại Mát - xcơ - va (1957), đã tăng cường và củng cố khối đoàn kết trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản quốc tế; phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới ngày càng phát triển sâu rộng. Bên cạnh đó, chủ nghĩa xét lại đã xuất hiện trong một số đảng cộng sản; sự bất hòa giữa Liên Xô và Trung Quốc gây không ít khó khăn đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Đứng trước tình hình trên, để tiếp tục thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng Việt Nam là hoà bình, độc lập, thống nhất và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất yếu cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng phải tiếp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong lời khai mạc tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (8 -1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong công cuộc thống nhất nước nhà, điều quan trọng nhất là phải ra sức củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam” [19, 468]. Trong đó, Người khẳng định: trong công cuộc củng cố miền Bắc, một việc quan trọng vào bậc nhất là khôi phục kinh tế. Trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo của Người, Đảng ta khẳng định: “…vấn đề thực hiện thống nhất nước nhà trở thành một nhiệm vụ mấu chốt của cuộc đấu tranh chính trị trong thời kỳ mới này” [19, tr.
Như vậy, quan điểm của Đảng ta: muốn thật sự củng cố miền Bắc phải kiện toàn chế độ dân chủ mới và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, vấn đề khôi phục, củng cố và phát triển kinh tế là quan trọng nhất, là cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, là cơ sở để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, là điều kiện không thể thiếu để chi viện cho miền Nam, đấu tranh thống nhất nước nhà và không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Chủ trương của Đảng về xây dựng kinh tế miền Bắc (1954 -1965) Sau khi được hoàn toàn giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng miền Bắc đã thực hiện các bước quá độ để đi lên chủ nghĩa xã hội.
Khi đề cập về mối quan hệ giữa cách mạng dân chủ tư sản và cách mạng xã hội chủ nghĩa thời kỳ quá độ, V. Lênin đã khẳng định: “…cuộc cách mạng thứ nhất chuyển thành cuộc cách mạng thứ hai. Cuộc cách mạng thứ hai, nhân tiện, giải quyết luôn cả những vấn đề của cuộc cách mạng thứ nhất” [43, tr. Phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng ta đã chỉ ra hai giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa có chỗ đan xen vào nhau chứ không tách rời.
Nhiệm vụ của giai đoạn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sau phải là một phần ngay trong giai đoạn trước và có khi sang giai đoạn mới có thể hoàn thành một nhiệm vụ nào đó mà giai đoạn trước chưa làm xong. Do vậy, tại Hội nghị Bộ chính trị (9 - 1954) Đảng ta khẳng định: “Chia ruộng đất cho nông dân, xoá bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ phải là chính sách bất di bất dịch của ta” [18, tr. Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành trung ương Đảng (3 - 1955) tiếp tục nhấn mạnh: “Để củng cố miền Bắc, trước hết cần hoàn thành cải cách ruộng đất” [19, tr. Để bảo đảm thực hiện thắng lợi chính sách cải cách ruộng đất, Đảng ta đã đề ra đường lối giai cấp ở nông thôn, đó là: dựa hẳn vào bần cố nông (kể cả trung nông mới), củng cố đoàn kết với trung nông, liên hiệp với phú nông, đánh đổ giai cấp địa chủ.
Thực hiện phân hoá giai cấp địa chủ, chú trọng việc phân biệt đối xử với các hạng địa chủ, chiếu cố địa chủ tham gia và ủng hộ kháng chiến một cách thích đáng. Phương châm, sách lược trong cải cách ruộng đất, đã thể hiện sâu sắc về quan điểm “Một mặt hết sức thoả mãn yêu cầu về kinh tế và chính trị của nông dân để phát động nông dân và tranh thủ sự ủng hộ của nông dân. Mặt khác, lại cần hết sức mở rộng mặt trận chống phong kiến và mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết được, trung lập mọi lực lượng có thể trung lập được để tranh thủ đa số, cô lập thiểu số, củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất”[18, tr. Cùng với tiến hành cải cách ruộng đất, Đảng lãnh đạo tiến hành khắc phục hậu quả của chiến tranh, khôi phục kinh tế.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (8-1955) đã chỉ ra: “.công tác cải cách ruộng đất vẫn là công tác trung tâm, nhưng công tác khôi phục kinh tế là công tác rất trọng yếu” [19, 578].