Luận án tiến sĩ đảng lãnh đạo hoạt động của tổng liên đoàn lao động việt nam từ năm 2001 đến năm 2020

Luận án tiến sĩ phân tích đảng lãnh đạo hoạt động của tổng liên đoàn lao động việt nam từ năm 2001 đến năm 2020, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

219
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2. Kết quả nghiên cứu của những công trình đã tổng quan và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM (2001 – 2010)

2.1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng về hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

2.2. Đảng chỉ đạo hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2001 – 2010)

3. CHƯƠNG 3: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM (2011 – 2020)

3.1. Những yếu tố mới tác động và chủ trương của Đảng về hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

3.2. Đảng chỉ đạo hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2011 – 2020)

4. CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

4.1. Một số kinh nghiệm

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn giữ vai trò lãnh đạo trong hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Tổng LĐLĐVN) từ khi thành lập. Sự lãnh đạo này không chỉ thể hiện qua các chính sách mà còn qua việc xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh, nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động. Tổng LĐLĐVN là tổ chức chính trị, xã hội của giai cấp công nhânngười lao động, có nhiệm vụ chăm lo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Đảng đã xác định rõ vai trò của Tổng LĐLĐVN trong hệ thống chính trị, coi đây là một trong những yếu tố quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Sự lớn mạnh của Tổng LĐLĐVN không chỉ góp phần vào việc bảo vệ quyền lợi của người lao động mà còn là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

1.1. Vai trò của Đảng trong hoạt động của Tổng LĐLĐVN

Đảng đã có những chủ trương rõ ràng về việc nâng cao vai trò của Tổng LĐLĐVN trong hệ thống chính trị. Các văn kiện của Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy vai trò của công đoàn trong việc đại diện cho người lao động, bảo vệ quyền lợi của họ. Đảng đã chỉ đạo Tổng LĐLĐVN thực hiện các chương trình hành động nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn, từ đó tạo ra môi trường làm việc tốt hơn cho công nhân Việt Nam. Đảng cũng đã khuyến khích việc phát triển các phong trào thi đua yêu nước trong người lao động, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

II. Tình hình lao động và hoạt động công đoàn 2001 2020

Giai đoạn từ năm 2001 đến 2020 chứng kiến nhiều biến động trong tình hình lao động tại Việt Nam. Tổng LĐLĐVN đã phải đối mặt với nhiều thách thức, từ việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do đến việc ứng phó với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong bối cảnh đó, Đảng đã có những chỉ đạo kịp thời để Tổng LĐLĐVN có thể thích ứng và phát triển. Các chính sách lao động đã được điều chỉnh để phù hợp với tình hình mới, nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động và đảm bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, như tình trạng tranh chấp lao động và ngừng việc tập thể, cho thấy vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động cần được củng cố hơn nữa.

2.1. Những thách thức đối với hoạt động công đoàn

Trong giai đoạn này, Tổng LĐLĐVN đã gặp phải nhiều thách thức lớn. Tình hình lao động diễn biến phức tạp, với nhiều cuộc đình công xảy ra do người lao động chưa hài lòng với điều kiện làm việc và mức lương. Đảng đã chỉ đạo Tổng LĐLĐVN cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người lao động về quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Đồng thời, việc xây dựng các tổ chức công đoàn cơ sở cũng cần được chú trọng hơn, nhằm tạo ra một lực lượng mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động.

III. Đánh giá và kinh nghiệm từ hoạt động của Tổng LĐLĐVN

Đánh giá hoạt động của Tổng LĐLĐVN trong giai đoạn 2001-2020 cho thấy nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận những hạn chế trong việc thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền lợi của người lao động. Đảng đã chỉ ra rằng, để nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn, cần phải cải cách tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công đoàn. Việc phát triển đoàn viên công đoàn cũng cần được chú trọng hơn, nhằm tạo ra một tổ chức công đoàn vững mạnh, có khả năng bảo vệ quyền lợi của người lao động trong bối cảnh mới.

3.1. Những bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn hoạt động của Tổng LĐLĐVN, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quan trọng. Đầu tiên, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của công đoàn là rất cần thiết. Thứ hai, cần phải chú trọng đến việc phát triển năng lực cho đội ngũ cán bộ công đoàn, để họ có thể đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Cuối cùng, việc xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa công đoàn và các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp cũng là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người lao động.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án kết cấu gồm 4 chương, 8 tiết. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm công trình nghiên cứu về công đoàn, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Cuốn sách “Công đoàn Việt Nam thế kỷ 21 phát triển trong thách thức” [67] của tác giả Đan Tâm đã tiếp cận công tác công đoàn theo quan điểm công đoàn hoạt động phải đáp ứng nhu cầu, lợi ích của NLĐ ở các đơn vị cơ sở mà tổ chức CĐVN đang hướng tới.

Trên cơ sở chỉ ra những tác động của bối cảnh quốc tế và Việt Nam đến công nhân, NLĐ và hoạt động của công đoàn, tác giả đưa ra những gợi ý, dự báo về mô hình tổ chức công đoàn thế kỷ 21 là một mô hình mở. Mở về mô hình tổ chức là cách thức tập hợp NLĐ (không nhất thiết phải là lao động kết cấu, không nhất thiết phải làm việc ở một doanh nghiệp, công sở nhất định); không nhất thiết đã là ngành thì phải dọc từ trên xuống dưới; không nhất thiết phải cố định, liên tục, mà có thể theo mùa vụ. Bộ sách “Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam” (3 tập) [92] của Tổng LĐLĐVN. Bộ sách đã tổng kết, đánh giá một cách hệ thống quá trình ra đời, trưởng thành và phát triển của phong trào công nhân và CĐVN từ cuối thế kỷ XIX đến năm 2000.

Qua đó, khẳng định: “Tổng LĐLĐVN đã vận dụng đường lối của Đảng vào tập hợp đoàn viên, NLĐ thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ của tổ chức CĐVN trong các giai đoạn cách mạng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”. Cuốn sách “Công đoàn với phong trào thi đua trong công nhân, viên chức, lao động thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” [62] của tác giả 8 Dương Văn Sao, đã làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý; đánh giá kết quả công tác tổ chức, phát động các phong trào thi đua trong CNVCLĐ thời kỳ đổi mới, khẳng định: “Tổng LĐLĐVN luôn chú trọng, kiên trì tổ chức, phát động các phong trào thi đua trong CNVCLĐ, đã động viên, lôi cuốn đông đảo CNVCLĐ tự nguyện tham gia thi đua, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, học tập, công tác đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”. Cùng với khẳng định những kết quả đạt được, tác giả cho rằng: công tác tổ chức, chỉ đạo thi đua trong CNVCLĐ vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định, nên hiệu quả chưa cao. Tác giả đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua trong CNVCLĐ, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Cuốn sách “Những tác động tới việc làm, đời sống của người lao động và các giải pháp hoạt động công đoàn khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)” [99] của Tổng LĐLĐVN, đã tập trung vào khái quát một số vấn đề lý luận về Tổ chức Thương mại Thế giới; chỉ ra những tác động đối với việc làm, đời sống của NLĐ, hoạt động của CĐVN và đề xuất những giải pháp công đoàn bảo vệ việc làm, đời sống của NLĐ khi Việt Nam gia nhập WTO. Luận án “Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới” [43] của Vũ Đạt đã phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi cơ cấu tổ chức CĐVN từ năm 1986 đến năm 2006. Luận án cho rằng: Sự biến đổi cơ chế quản lý kinh tế đã dẫn đến sự biến đổi nhất định về HTCT, từ đó tất yếu dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu tổ chức của hệ thống CĐVN; sự biến đổi hiện nay của tổ chức CĐVN có những điểm hợp lý, phù hợp với thực tiễn nhưng cũng còn những vấn đề chưa hợp lý. Do đó, vai trò của CĐVN trong HTCT cũng chưa đáp ứng được yêu cầu trong quá trình đổi mới và toàn cầu hóa.

Luận án đưa ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả xây dựng hệ thống tổ chức công đoàn thời kỳ mới của đất nước. 9 Cuốn sách “Nâng cao năng lực cán bộ công đoàn trong giai đoạn mới” [63] của tác giả Dương Văn Sao đi sâu phân tích thực trạng năng lực của cán bộ công đoàn và chỉ ra những bất cập còn tồn tại trước yêu cầu của hoạt động công đoàn trong tình hình mới: trình độ năng lực đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là cán bộ CĐCS khu vực ngoài nhà nước chưa thực sự ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ công tác công đoàn trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả cho rằng: cần phải xác định rõ công tác cán bộ là công tác trọng tâm, thường xuyên của tổ chức công đoàn và là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng; từ đó, các cấp ủy Đảng chú trọng đến công tác cán bộ công đoàn, lãnh đạo công đoàn thực hiện chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn ngày càng lớn mạnh đáp ứng yêu cầu phong trào công nhân, hoạt động công đoàn trong giai đoạn mới. Cuốn sách “Hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh” [174] tác giả Nguyễn Viết Vượng đi sâu vào nghiên cứu những hoạt động cụ thể, dự báo một số thuận lợi, khó khăn, đưa ra phương hướng, giải pháp đẩy mạnh hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Tác giả khẳng định: “Đẩy mạnh phát triển đoàn viên xây dựng CĐCS vững mạnh, tạo bước chuyển mạnh mẽ, nhận thức và ý nghĩa tầm quan trọng của công tác phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS ngoài quốc doanh là nhiệm vụ trọng tâm của công đoàn”. Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, sự ủng hộ, phối hợp chặt chẽ của các cấp chính quyền địa phương, cơ sở; sự cộng tác tích cực, hiệu quả của các tổ chức chính trị, xã hội trong việc tập hợp, xây dựng đội ngũ công nhân, lao động là điều kiện thuận lợi để Công đoàn thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển đoàn viên xây dựng tổ chức CĐVN lớn mạnh. Cuốn sách “Công đoàn và quan hệ lao động trong bối cảnh kinh tế thị trường Việt Nam” [129] của Tổng LĐLĐVN và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khẳng định: “Với tư cách là tổ chức đại diện cho NLĐ (không phải là 10 một bộ phận của chính quyền nhà nước) công đoàn cần phải gây ảnh hưởng lên quá trình xây dựng chính sách của chính phủ. Đại diện người sử dụng lao động cũng cần phải làm như vậy”.

Do đó, cơ chế đối thoại ba bên ở tất cả các cấp cần được xây dựng, để tổ chức đại diện này có thể chia sẻ thông tin và tư vấn về các vấn đề có liên quan đến họ. Thông qua quá trình đối thoại này, Công đoàn cần xây dựng các thiết chế hiệu quả về quan hệ và thị trường lao động, phát triển xã hội trên cơ sở cam kết ba bên về bảo vệ quyền lợi NLĐ và cải thiện điều kiện việc làm. Cuốn sách “Vai trò, nhiệm vụ của Công đoàn trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa ở các doanh nghiệp” [131] của Tổng LĐLĐVN, đã chỉ ra vai trò của công đoàn các cấp trong việc xây dựng, phát triển quan hệ lao động như: tham gia xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; được tham khảo ý kiến khi người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc vì lý do kinh tế hoặc doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ, xử lý kỷ luật lao động, tạm đình chỉ công việc NLĐ và CĐCS tham gia thương lượng tập thể, ký kết, giám sát thực hiện TƯLĐTT, xây dựng quy chế dân chủ tại đơn vị; đồng thời, tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động, đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, qua đó, bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ. Cuốn sách “Trí thức hóa công nhân và nhiệm vụ của Công đoàn” [48] của tác giả Lê Thanh Hà, nghiên cứu các vấn đề lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức hóa công nhân; về vai trò của CĐVN trong xây dựng GCCN; phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ công nhân trí thức ở Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới, từ đó, tác giả đề xuất giải pháp để tổ chức CĐVN thực hiện nhiệm vụ trí thức hóa công 11 nhân, góp phần xây dựng GCCN lớn mạnh thích ứng nhanh với sự phát triển mạnh của nền kinh tế tri thức.

Cuốn sách “Quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và vai trò của công đoàn” [49] của Lê Thanh Hà, nhận định: vẫn tồn tại số công nhân không được ký hợp đồng lao động; thu nhập của công nhân không đáp ứng nhu cầu tối thiểu của họ, đặc biệt đối với công nhân ngoại tỉnh; phần lớn công nhân nhập cư phải thuê chỗ ở tại các khu nhà trọ, điều kiện ăn ở chật hẹp, không hợp vệ sinh. Từ đó, đưa ra giải pháp để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Cuốn sách “Vai trò đại diện người lao động của Công đoàn Việt Nam trong hội nhập quốc tế” [64] của đồng tác giả Dương Văn Sao và Đinh Thị Mai. Công trình tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò đại diện NLĐ của CĐVN; nội dung và các điều kiện để thực hiện vai trò đại diện cho NLĐ của Công đoàn.

Từ việc phân tích thực trạng vai trò đại diện NLĐ của CĐVN và chỉ ra những hạn chế cũng như nguyên nhân, nhóm tác giả đã nêu ra giải pháp để phát huy vai trò đại diện NLĐ của CĐVN trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ