phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án kết cấu gồm 4 chương, 8 tiết. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm công trình nghiên cứu về công đoàn, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Cuốn sách “Công đoàn Việt Nam thế kỷ 21 phát triển trong thách thức” [67] của tác giả Đan Tâm đã tiếp cận công tác công đoàn theo quan điểm công đoàn hoạt động phải đáp ứng nhu cầu, lợi ích của NLĐ ở các đơn vị cơ sở mà tổ chức CĐVN đang hướng tới.
Trên cơ sở chỉ ra những tác động của bối cảnh quốc tế và Việt Nam đến công nhân, NLĐ và hoạt động của công đoàn, tác giả đưa ra những gợi ý, dự báo về mô hình tổ chức công đoàn thế kỷ 21 là một mô hình mở. Mở về mô hình tổ chức là cách thức tập hợp NLĐ (không nhất thiết phải là lao động kết cấu, không nhất thiết phải làm việc ở một doanh nghiệp, công sở nhất định); không nhất thiết đã là ngành thì phải dọc từ trên xuống dưới; không nhất thiết phải cố định, liên tục, mà có thể theo mùa vụ. Bộ sách “Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam” (3 tập) [92] của Tổng LĐLĐVN. Bộ sách đã tổng kết, đánh giá một cách hệ thống quá trình ra đời, trưởng thành và phát triển của phong trào công nhân và CĐVN từ cuối thế kỷ XIX đến năm 2000.
Qua đó, khẳng định: “Tổng LĐLĐVN đã vận dụng đường lối của Đảng vào tập hợp đoàn viên, NLĐ thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ của tổ chức CĐVN trong các giai đoạn cách mạng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”. Cuốn sách “Công đoàn với phong trào thi đua trong công nhân, viên chức, lao động thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” [62] của tác giả 8 Dương Văn Sao, đã làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý; đánh giá kết quả công tác tổ chức, phát động các phong trào thi đua trong CNVCLĐ thời kỳ đổi mới, khẳng định: “Tổng LĐLĐVN luôn chú trọng, kiên trì tổ chức, phát động các phong trào thi đua trong CNVCLĐ, đã động viên, lôi cuốn đông đảo CNVCLĐ tự nguyện tham gia thi đua, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, học tập, công tác đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc”. Cùng với khẳng định những kết quả đạt được, tác giả cho rằng: công tác tổ chức, chỉ đạo thi đua trong CNVCLĐ vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định, nên hiệu quả chưa cao. Tác giả đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua trong CNVCLĐ, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Cuốn sách “Những tác động tới việc làm, đời sống của người lao động và các giải pháp hoạt động công đoàn khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)” [99] của Tổng LĐLĐVN, đã tập trung vào khái quát một số vấn đề lý luận về Tổ chức Thương mại Thế giới; chỉ ra những tác động đối với việc làm, đời sống của NLĐ, hoạt động của CĐVN và đề xuất những giải pháp công đoàn bảo vệ việc làm, đời sống của NLĐ khi Việt Nam gia nhập WTO. Luận án “Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới” [43] của Vũ Đạt đã phân tích, đánh giá thực trạng biến đổi cơ cấu tổ chức CĐVN từ năm 1986 đến năm 2006. Luận án cho rằng: Sự biến đổi cơ chế quản lý kinh tế đã dẫn đến sự biến đổi nhất định về HTCT, từ đó tất yếu dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu tổ chức của hệ thống CĐVN; sự biến đổi hiện nay của tổ chức CĐVN có những điểm hợp lý, phù hợp với thực tiễn nhưng cũng còn những vấn đề chưa hợp lý. Do đó, vai trò của CĐVN trong HTCT cũng chưa đáp ứng được yêu cầu trong quá trình đổi mới và toàn cầu hóa.
Luận án đưa ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả xây dựng hệ thống tổ chức công đoàn thời kỳ mới của đất nước. 9 Cuốn sách “Nâng cao năng lực cán bộ công đoàn trong giai đoạn mới” [63] của tác giả Dương Văn Sao đi sâu phân tích thực trạng năng lực của cán bộ công đoàn và chỉ ra những bất cập còn tồn tại trước yêu cầu của hoạt động công đoàn trong tình hình mới: trình độ năng lực đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là cán bộ CĐCS khu vực ngoài nhà nước chưa thực sự ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ công tác công đoàn trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả cho rằng: cần phải xác định rõ công tác cán bộ là công tác trọng tâm, thường xuyên của tổ chức công đoàn và là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng; từ đó, các cấp ủy Đảng chú trọng đến công tác cán bộ công đoàn, lãnh đạo công đoàn thực hiện chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn ngày càng lớn mạnh đáp ứng yêu cầu phong trào công nhân, hoạt động công đoàn trong giai đoạn mới. Cuốn sách “Hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh” [174] tác giả Nguyễn Viết Vượng đi sâu vào nghiên cứu những hoạt động cụ thể, dự báo một số thuận lợi, khó khăn, đưa ra phương hướng, giải pháp đẩy mạnh hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Tác giả khẳng định: “Đẩy mạnh phát triển đoàn viên xây dựng CĐCS vững mạnh, tạo bước chuyển mạnh mẽ, nhận thức và ý nghĩa tầm quan trọng của công tác phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS ngoài quốc doanh là nhiệm vụ trọng tâm của công đoàn”. Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, sự ủng hộ, phối hợp chặt chẽ của các cấp chính quyền địa phương, cơ sở; sự cộng tác tích cực, hiệu quả của các tổ chức chính trị, xã hội trong việc tập hợp, xây dựng đội ngũ công nhân, lao động là điều kiện thuận lợi để Công đoàn thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển đoàn viên xây dựng tổ chức CĐVN lớn mạnh. Cuốn sách “Công đoàn và quan hệ lao động trong bối cảnh kinh tế thị trường Việt Nam” [129] của Tổng LĐLĐVN và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khẳng định: “Với tư cách là tổ chức đại diện cho NLĐ (không phải là 10 một bộ phận của chính quyền nhà nước) công đoàn cần phải gây ảnh hưởng lên quá trình xây dựng chính sách của chính phủ. Đại diện người sử dụng lao động cũng cần phải làm như vậy”.
Do đó, cơ chế đối thoại ba bên ở tất cả các cấp cần được xây dựng, để tổ chức đại diện này có thể chia sẻ thông tin và tư vấn về các vấn đề có liên quan đến họ. Thông qua quá trình đối thoại này, Công đoàn cần xây dựng các thiết chế hiệu quả về quan hệ và thị trường lao động, phát triển xã hội trên cơ sở cam kết ba bên về bảo vệ quyền lợi NLĐ và cải thiện điều kiện việc làm. Cuốn sách “Vai trò, nhiệm vụ của Công đoàn trong việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa ở các doanh nghiệp” [131] của Tổng LĐLĐVN, đã chỉ ra vai trò của công đoàn các cấp trong việc xây dựng, phát triển quan hệ lao động như: tham gia xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; được tham khảo ý kiến khi người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc vì lý do kinh tế hoặc doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ, xử lý kỷ luật lao động, tạm đình chỉ công việc NLĐ và CĐCS tham gia thương lượng tập thể, ký kết, giám sát thực hiện TƯLĐTT, xây dựng quy chế dân chủ tại đơn vị; đồng thời, tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động, đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, qua đó, bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ. Cuốn sách “Trí thức hóa công nhân và nhiệm vụ của Công đoàn” [48] của tác giả Lê Thanh Hà, nghiên cứu các vấn đề lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức hóa công nhân; về vai trò của CĐVN trong xây dựng GCCN; phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ công nhân trí thức ở Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới, từ đó, tác giả đề xuất giải pháp để tổ chức CĐVN thực hiện nhiệm vụ trí thức hóa công 11 nhân, góp phần xây dựng GCCN lớn mạnh thích ứng nhanh với sự phát triển mạnh của nền kinh tế tri thức.
Cuốn sách “Quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và vai trò của công đoàn” [49] của Lê Thanh Hà, nhận định: vẫn tồn tại số công nhân không được ký hợp đồng lao động; thu nhập của công nhân không đáp ứng nhu cầu tối thiểu của họ, đặc biệt đối với công nhân ngoại tỉnh; phần lớn công nhân nhập cư phải thuê chỗ ở tại các khu nhà trọ, điều kiện ăn ở chật hẹp, không hợp vệ sinh. Từ đó, đưa ra giải pháp để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Cuốn sách “Vai trò đại diện người lao động của Công đoàn Việt Nam trong hội nhập quốc tế” [64] của đồng tác giả Dương Văn Sao và Đinh Thị Mai. Công trình tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò đại diện NLĐ của CĐVN; nội dung và các điều kiện để thực hiện vai trò đại diện cho NLĐ của Công đoàn.
Từ việc phân tích thực trạng vai trò đại diện NLĐ của CĐVN và chỉ ra những hạn chế cũng như nguyên nhân, nhóm tác giả đã nêu ra giải pháp để phát huy vai trò đại diện NLĐ của CĐVN trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.