đặt vấn đề nghiên cứu vấn đề” Đảm bảo An ninh nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng nhưng luận văn chỉ tập trung khảo sát trên các địa bàn Hà Tây, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình vì đây là những địa phương trong thời gian qua vấn đề An ninh nông thôn có những biến động phức tạp, xảy ra nhiều điểm nóng. Mặt khác với những địa phương trên đã có thể đủ lượng các đơn vị khảo sát cho phép rút ra những kết luận cho cả vùng. Luận văn tập trung khảo sát từ năm 2000 đến nay và các giải pháp được đề ra dự kiến có tính khả thi đến năm 2020. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu - Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng là cơ sở lý luận và phương pháp luận để thực hiện đề tài.
- Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung trong nghiên cứu khoa học xã hội như: Điều tra, khảo sát, diễn giải, phân tích, tổng hợp, so sánh…Song do đặc điểm riêng của đề tài nên tác giả quan tâm ưu tiên sử dụng phương pháp tổng kết thực tiễn. Kết hợp giữa tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận. Đóng góp của luận văn - Đánh giá toàn diện thực trạng An ninh nông thôn và công tác đảm bảo An ninh nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng từ năm 2000 đến nay, làm rõ các nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng. - Bước đầu gợi mở những bài học kinh nghiệm có tính lý luận, có giá trị phổ biến, có khả năng vận dụng vào công tác đảm bảo An ninh nông thôn trong điều kiện mới.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đưa ra được hệ giải pháp toàn diện, đồng bộ có tính khả thi về đảm bảo An ninh nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn mới. Kết cấu của luận văn Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu làm 3 chương, 7 tiết. Chƣơng 1: ĐẢM BẢO AN NINH NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRƢỚC YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1.
Vai trò nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một trong hai đồng bằng quan trọng nhất của Việt Nam (cùng với đồng bằng Sông Cửu Long). Nhìn tổng thể, ĐBSH là một vùng đất rộng lớn hình tam giác, tổng diện tích là 27.831 km2, với đỉnh gần thành phố Việt Trì nằm sâu trong đất liền khoảng 150 km, đáy là đường bờ biển kéo dài từ Hòn Gai đến điểm cực Nam của tỉnh Ninh Bình, dài khoảng 130 km. Nghị quyết số 54 - NQ/TƯ ngày 14-9-2005 của Bộ Chính trị khoá IX về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh - quốc phòng vùng ĐBSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 xác định: vùng ĐBSH gồm 12 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Từ ngày 01-8-2008 địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội mở rộng, hợp nhất toàn bộ diện tích của tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (tỉnh Hoà Bình).
Nghiên cứu lịch sử cho biết: Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nông thôn vùng ĐBSH có vai trò quan trọng cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội và chống giặc ngoại xâm. Nông thôn vùng ĐBSH là nơi cộng đồng dân cư sinh sống, liên kết chặt chẽ với nhau trong quan hệ kinh tế, xóm làng, họ tộc, hội hè, tín ngưỡng, giúp đỡ và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Nông thôn vùng ĐBSH được hình thành bởi các làng; mỗi làng, xã - ngoài những điểm chung về văn hoá, phong tục tập quán. - còn có những nét riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hoá Việt Nam.
Trong thời kỳ ngoại xâm thống trị, các chính quyền nhà nước đều xác định nông thôn vùng ĐBSH là khu vực quan trọng, nằm trong hệ thống quản lý hành chính lãnh thổ của đất nước. Bộ máy chính quyền nông thôn vùng ĐBSH là công cụ phục vụ đắc lực cho chính quyền nhà nước cấp trên trong việc cai quản nông thôn. Đầu thế kỷ XX, nông thôn vùng ĐBSH trở thành địa bàn đặc biệt quan trọng, ở đó các tổ chức đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời và được che chở, bảo vệ và hoạt động. Nhân dân nông thôn vùng ĐBSH sớm được Đảng giác ngộ, tập hợp và trở thành lực lượng cách mạng hùng hậu.
Nhìn chung, cho đến năm 1945, kinh tế-xã hội Việt Nam nói chung, ở nông thôn vùng ĐBSH nói riêng chủ yếu làm nông nghiệp, với tổ chức sản xuất hộ gia đình, cộng đồng làng xóm và các phường hội. Thị trường chủ yếu là chợ làng, xã; sản xuất, buôn bán là hoạt động cá thể. Thiết chế chính trị, cấu trúc quyền lực, các tổ chức xã hội (tín ngưỡng, dòng họ, về hỗ trợ sản xuất) và sự vận hành của chúng đều lấy cơ sở làng xã. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, từ năm 1946-1954 về cơ bản cơ cấu thiết chế chính trị-xã hội nông thôn vùng ĐBSH đã thay đổi hẳn so với trước 1945, chính quyền cách mạng mới thiết lập ở cấp tỉnh, huyện, xã.
Vùng địch tạm chiếm, chính quyền của ta ở huyện, xã hoạt động không công khai. Thời kỳ 1945 - 1975, đặc điểm nổi bật nhất của cả nước nói chung, nông thôn vùng ĐBSH nói riêng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là tập trung sức lực chống ngoại xâm và thống nhất đất nước. Để tập trung cho sự nghiệp lớn, thiết chế chính trị-xã hội nông thôn chủ yếu làm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệm vụ động viên kháng chiến. Còn ở vùng tạm chiếm, thiết chế chính trị- xã hội nông thôn do thực dân Pháp lập ra nhằm chống lại cách mạng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của nông thôn vùng ĐBSH đã được nâng lên, thể hiện rõ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Nông thôn vùng ĐBSH là căn cứ địa của cách mạng; là nơi xây dựng và hoạt động của lực lượng du kích, dân quân tự vệ; là nơi cung cấp cho Đảng những quần chúng ưu tú để tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng. Nông thôn vùng ĐBSH cùng với cả miền Bắc đã góp phần to lớn, có ý nghĩa quyết định đưa miền Bắc trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam. Nông thôn vùng ĐBSH trở thành đơn vị sản xuất, chiến đấu, là cơ sở, nền tảng xây dựng chế độ xã hội mới.
Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX đến năm 1988 tổ chức sản xuất kinh doanh ở nông thôn vùng ĐBSH chủ yếu là hợp tác xã (HTX) từng bước từ thấp lên cao với quy mô toàn xã. Cùng với nó là chế độ bao cấp và sản xuất theo kế hoạch từ trên xuống dưới. Chức năng sản xuất theo hộ gia đình bị giảm, nó không còn là chủ thể xã hội, chỉ có sở hữu tập thể, kinh tế hàng hoá bị thu hẹp, các mặt hàng đều do Nhà nước phân phối. Từ khoán 10, khoán 100 đến nay, nông thôn vùng ĐBSH đã có biến đổi sâu sắc: Hộ gia đình (hộ cá thể nông dân, hộ xã viên, các doanh nghiệp gia đình trở thành đơn vị sản xuất-kinh doanh tự chủ là chủ thể sản xuất, chủ thể xã hội); nền kinh tế chuyển từ tự cấp tự túc sang kinh tế thị trường làm cho kết cấu nông thôn trở nên đa dạng hoá; nông thôn đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xúc tiến quá trình CNH, HĐH.
Từ sau khoán 10, thiết chế chính trị-xã hội nông thôn ĐBSH chủ yếu gồm các thành tố: Kinh tế hộ gia đình và các thành phần kinh tế đang hướng tới thị trường; HTX (có sự thay đổi so với trước); tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân.Bộ máy quản lý nông thôn vùng ĐBSH thời kỳ 1954 – 1988 được tổ chức theo mô hình, mà tổ chức của nó có đặc điểm: Tổ chức Đảng có vai trò lãnh đạo toàn diện; HTX nông nghiệp là nơi cung cấp vật chất cho các tổ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức khác hoạt động; quản lý cộng đồng làng xã theo kiểu tự quản bị giải thể. Quan hệ cộng đồng làng xã nhìn chung được thay thế chủ yếu bằng các hội, các đoàn thể. Từ sau 1988, thiết chế quản lý nông thôn vùng ĐBSH bắt đầu có sự đổi mới: Chính quyền thực hiện các chức năng trước đây mà HTX nông nghiệp từng đảm nhận hoặc đảng uỷ bao biện làm thay; việc quản lý xã hội, tính tự quản của làng xã nông thôn từ nhiều năm bị hạn chế, nay có điều kiện phát triển. Nhiều làng xây dựng hương ước được coi như “luật riêng” của làng; đội ngũ cán bộ còn yếu kém, không năng động theo cơ chế thị trường, không có kiến thức tổ chức kinh doanh.; kết cấu kinh tế nông thôn về cơ bản đã thay đổi, kinh tế gia đình phát triển dần thay thế kinh tế tập thể.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong gần 22 năm (1986-2008), sản xuất nông nghiệp, kinh tế-xã hội nông thôn và đời sống nông dân nông thôn vùng ĐBSH đã đạt được những thành tựu to lớn và cơ bản; song, còn tồn tại một số vấn đề nổi cộm như: Khu công nghiệp mọc lên, đất nông nghiệp giảm xuống: Tính đến giữa năm 2007, vùng ĐBSH có 34 khu công nghiệp tập trung được thành lập, thu hồi đất nông nghiệp do phát triển khu công nghiệp đã làm cho hàng chục nghìn hộ, chủ yếu là nông dân mất đất sản xuất, thiếu việc làm, thu nhập thấp và giảm dần; các tệ nạn xã hội phát triển; môi trường sinh thái bị ảnh hưởng nghiệm trọng; có sự phân hoá về thu nhập và đời sống trong nội bộ dân cư nông thôn. Đất đai nông nghiệp đã ít lại bị chia nhỏ, phân tán, manh mún với mức bình quân đầu người rất thấp so với cả nước làm cho xu hướng tự cấp, tự túc ở một số vùng nông thôn ĐBSH vẫn nặng nề, sản xuất hàng hoá phát triển chậm. Hiện nay, theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu thì có ba nguy cơ rất rõ ràng đối mặt với người dân quê, đó là: nông dân mất ruộng, nông dân chán ruộng, nông dân chán thôn quê.