Chương 1: Cơ sở lý luận về an ninh con người và đảm bảo an ninh con người tại DN - Chương 2: Thực trạng công tác đảm bảo an ninh con người tại công ty TNHH KIDO - Chương 3: Một số giải pháp góp phần đảm bảo an ninh con người tại công ty TNHH KIDO Kết luận 6 c CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH CON NGƢỜI VÀ ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƢỜI TẠI DOANH NGHIỆP 1. An ninh con ngƣời 1. An ninh “An ninh” trong tiếng anh được hiểu là mức độ an toàn cao nhất cho chủ thể.
Tại các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau thì an ninh và an toàn được dùng chung một từ an toàn, bình an. Như vậy, có thể hiểu “An ninh là sự tồn tại, an toàn, bình an, không có nỗi lo, rủi ro, mối nguy, sự cố hay tổn thất về người và của”. Theo Bellamy (1981), an ninh là sự tự do tương đối không lo có chiến tranh kết hợp với mong đợi tương đối cao là không bị đánh bại bởi bất kỳ cuộc chiến tranh nào có thể xảy ra. Lịch sử đã cho thấy con người không thể có cuộc sống ổn định và phá triển bền vững nếu như không có an ninh và một quốc gia cũng không thể phát triển bền vững nếu không đảm bảo được an ninh cho con người và DN trong tất cả các lĩnh vực đời sống, sản xuất và kinh doanh.
Cùng với sự phát triển của lịch sử và nhân loại, bên cạnh khái niệm an ninh đã hình thành nên khái niệm ANTT. Theo Luật An ninh quốc gia của VN (2014) thì an ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước CHXHCNVN, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Như vậy, có thể hiểu “ANTT theo quan điểm truyền thống là sự tồn tại và phát triển ổn định của một quốc gia trên các lĩnh vực: an ninh chính trị, an ninh quân sự, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng”. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi và phát triển của lịch sử nhân loại, thế giới trở nên phẳng hơn và bước vào giai đoạn hội nhập nhanh với sự gia tăng dân số toàn cầu, sự phát triển của các công nghệ mới, cũng như những sự thay đổi về truyền thông, quan điểm, tư tưởng, thương mại, du lịch, văn hóa.
Thế giới đang phải đối mặt với các nguy cơ lớn về biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh….trong khi vẫn phải đối phó với các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội. Tất cả các yếu tố trên đã hình thành nên khái niệm ANPTT, lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo “Phát triển con người” năm 1944 của UNDP. Theo đó, ANPTT được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững cá nhân, con người, DN, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh cạnh tranh, 7 c hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu. Trong đó, các mối đe dọa từ ANPTT được hiểu là các vấn đề an ninh mới xuất hiện và có khả năng tác động tiêu cực tới sự an toàn, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của cá nhân, con người, DN, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu.1 So sánh sự khác biệt giữa ANTT và ANPTT STT NỘI ANTT ANPTT ĐIỂM ĐIỂM MỚI DUNG CHUNG 1 Khái Là an ninh quốc Là an ninh nhà nước, Mối quan Khái niệm niệm cơ gia.
Cách tiếp cận an ninh DN và an hệ biện mới ra đời bản lấy nhà nước làm ninh con người. Các chứng khi hội nhập trung tâm tiếp cận lấy con người toàn cầu làm trung tâm 2 Mục Ổn định và PTBV Ổn định và PTBV của Mối quan Phát triển tiêu của nhà nước, chế nhà nước, con người hệ biện theo xu thế chính độ, độc lập, chủ (cộng đồng) và DN chứng hội nhập quyền, thống nhất, toàn cầu lãnh thổ 3 Chủ thể Nhà nước - Nhà nước Mối quan Đổi mới chính - Con người/ Cộng hệ biện nhận thức đồng chứng - DN 4 Công - Quân đội - -Sức mạnh và nguồn Mối quan Thay đổi cụ - Công an lực Nhà nước. hệ biện nhận thức. chính - Dân quân tự vệ - - Sức mạnh, nguồn chứng Phải chủ lực cộng đồng.
động - - Sức mạnh và nguồn lực DN 5 Tác Sự tồn tại của - Quốc tế (An ninh Mối quan Tác động đa động Đảng cầm quyền mạng…) hệ biện chiều, đa trực và thể chế nhà - Khu vực (Đói, dịch chứng mức độ, đa tiếp nước do Đảng bệnh…) cấp độ, đa cầm quyền quyết - Nhà nước lĩnh vực, định - Con người/cộng xuyên biên đồng giới - DN (Nguồn: Nguyễn Văn Hưởng, Bùi Văn Nam, Hoàng Đình Phi, 2015) 8 c Tóm lại, cùng với quá trình vận động và phát triển lịch sử kinh tế, chính trị và xã hội thì nội hàm khái niệm an ninh đã có sự thay đổi. Theo đó, việc đảm bảo an ninh Nhà Nước phải gắn với công tác đảm bảo an ninh cho con người, cộng đồng và DN. Đồng thời, chúng ta phải có cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm. Chính vì vậy, việc đảm bảo an ninh con người cũng chính là góp phần vào đảm bảo an ninh Nhà nước và an ninh DN hay nói rộng ra là đảm bảo ANPTT trong bối cảnh mới hiện nay.
An ninh con người Trên thế giới, quan niệm về an ninh con người của UNDP và EU ra đời sớm và nhận được sự công nhận rộng rãi nhất. Theo UNDP (1984), an ninh con người theo nghĩa rộng hàm ý về một tình trạng người dân không bị đe dọa kinh niên như đói nghèo, bệnh tạt, sự trấn áp và những tai nạn bất ngờ. Quan điểm này được xem là sự phát triển rộng về mặt nội hàm so với quan điểm theo nghĩa hẹp trước đây, dừng lại ở an ninh lãnh thổ trước sự xâm lược từ bên ngoài, ở việc bảo vệ lợi ích dân tộc trong chính sách đối ngoại và ở an ninh tòa cầu trước đe dọa hủy diệt hạt nhân. Cùng với sự phát triển của nội hàm khái niệm an ninh, quan điểm về an ninh con người của UNDP năm 1994 đã đưa ra 07 thành tố của an ninh con người, bao gồm: (i) An ninh kinh tế trươc mói đe dọa nghèo khổ; (ii) An ninh lương thực trước mối đe dọa đói kém; (iii) An ninh sức khỏe trước mối đe dọa thương tích và bệnh tật; (iv) An ninh môi trường trước mối đe dọa ô nhiễm, xuống cấp môi trường và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên; (v) An ninh cá nhân trước các hình thức đe dọa bạo hành khác nhau; (vi) An ninh cộng đồng trước các mối đe dọa từ văn hóa; (vii) An ninh chính trị trước sự bị trấn áp về chính tri.
Còn theo học thuyết về an ninh con người của Liên minh châu Âu (2004) xác định 05 mối đe dọa chính bao gồm: (i) Chủ nghĩa khủng bố; (ii) Việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; (iii) Các cuộc xung đột khu vực; (iv) Các nhà nước suy yếu không làm trong nhiệm vụ; (v) Tội phạm có tổ chức. Học giả và các nhà nghiên cứu tại VN cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về nội hàm khái niệm an ninh con người: + Theo Vũ Dương Ninh (2009): An ninh con người được nhìn nhận từ hai góc độ đó là sự an toàn của con người trước những nguy cơ lâu dài như đói khát, dịch bệnh, chiến tranh và sự áp bức; sự bảo vệ con người trước những đe dọa bất thường và nguy hại trong khuôn khổ gia đình, nơi làm việc hay cộng đồng. 9 c + Theo Trần Việt Hà (2016) thì “An ninh con người được hiểu là việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người trước những nguy cơ xâm hại, đe dọa; nhờ việc được bảo vệ như vậy, mỗi cá nhan nói riêng và cộng đồng nói chung có được đời sống yên ổn và cơ hội phát triển”. Kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm về an ninh nói chung và an ninh con người nói riêng, theo PGS.TS Hoàng Đình Phi (2015) thì “An ninh con người được hiểu là trạng thái bảo đảm sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người trước các mối đe dọa trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu”.
Trong đó, 07 yếu tố cấu thành, tác động đến an ninh con người từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau, tùy theo hoàn cảnh không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng người, từng cộng đồng người nhất định. Cụ thể: + An ninh kinh tế: bảo đảm cho con người về mặt an sinh xã hội, việc làm, nhất là thu nhập của người LĐ, tạo điều kiện cơ sở vật chất thực hiện, bảo đảm cuộc sống, bảo đảm quyền sống và phát triển; + An ninh lương thực: bảo đảm cho con người không bị đói, cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho con người, bảo đảm mọi người đều có cơ hội và khả năng cung ứng lương thực; + An ninh sức khỏe: bảo đảm an toàn cho con người trước mọi nguy cơ đe dọa về mặt sức khỏe thể chất (thể lực) và sức khỏe tinh thần (trí lực); + An ninh môi trường: bảo đảm môi trường sống cho con người; + An ninh cá nhân: bảo đảm cho mỗi cá nhân trước nguy cơ đe dọa từ hành vi bạo lực; + An ninh cộng đồng: bảo đảm cho từng công dân sinh sống trong một cộng đồng an toàn; + An ninh chính trị: bảo đảm sự ổn định chính trị-xã hội, là tiền đề bảo đảm, thực thi quyền con người, con người được an toàn, tự do, phát triển cả về thể chất và tinh thần Về cơ bản nội hàm khái niệm an ninh con người của PGS.TS Hoàng Đình Phi đã có sự kế thừa từ quan điiểm về an ninh con người của UNDP và học thuyết an ninh 10 c con người của Liên minh châu Âu.TS Hoàng Đình Phi đã đưa ra phương trình cơ bản an ninh của một chủ thể như sau (Phi, H.2017) AN NINH CỦA MỘT CHỦ THỂ = (AN TOÀN + ỔN ĐỊNH + PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG) – (CHI PHÍ QUẢN TRỊ RỦI RO + KHỦNG HOẢNG + CHI PHÍ KHẮC PHỤC) 1. Đảm bảo an ninh con ngƣời tại DN 1. An ninh DN Phương trình an ninh DN: AN NINH DOANH NGHIỆP = (AN TOÀN + ỔN ĐỊNH + PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG) – (CHI PHÍ QUẢN TRỊ RỦI RO + KHỦNG HOẢNG + CHI PHÍ KHẮC PHỤC) Bảng 1.