Chương 1 NHÀ VĂN DẠ NGÂN VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VĂN CHƯƠNG Dạ Ngân là một trong những nhà văn nữ có sự nghiệp sáng tác ổn định và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện nay. Tìm hiểu về tác phẩm của Dạ Ngân và con đường đến với văn chương của nhà văn không chỉ để đánh giá đúng về tác phẩm mà còn để nhận thức khách quan hơn về đời sống và giá trị văn chương nghệ thuật nói chung. Nhà văn Dạ Ngân Nhà văn Dạ Ngân tên thật là Lê Hồng Nga sinh ngày 06 tháng 02 năm 1952 ở Cao Lãnh, Đồng Tháp. Ngoài bút danh Dạ Ngân, nhà văn còn dùng các bút danh khác như Lê Long Mỹ, Dạ Hương.
Cuộc đời của nữ nhà văn đã đi qua tuổi 60 này từng trải qua nhiều biến cố, nhiều sự kiện, nhưng đáng lưu ý nhất là những năm tháng của thời kỳ bom đạn chiến tranh ở miền Nam, thời hậu chiến ở miền Bắc và duyên nợ văn chương gắn bó ngẫu nhiên mà như số phận với bà. Tác giả, tác phẩm Dạ Ngân là người con của miệt vườn Nam Bộ như bà từng nói: “Cuống nhau tôi thuộc về miền đất Hậu Giang chua phèn, tôi vẫn tự hào mình gốc miệt vườn. Tôi là phụ nữ miệt vườn chính cống và tôi luôn tự hào về điều đó”[37]. Cũng như Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy trước đây và Nguyễn Ngọc Tư bây giờ, Dạ Ngân luôn nhấn mạnh cội nguồn, bản quán của mình nhưng sự gắn kết với quê hương mỗi người mỗi khác.
Tuổi thơ của Dạ Ngân được bao bọc bởi tình yêu thương của gia đình, trong đó vai trò quyết định là người cô ruột của mình – một người đàn bà góa, ở vậy để chăm đàn 9 cháu từ khi anh trai đi kháng chiến. Đến khi người anh (tức cha Dạ Ngân) hy sinh trong nhà tù Côn Đảo, thì người cô ấy một mình gánh vác, lo toan tất cả. Dạ Ngân lớn lên chịu ảnh hưởng từ người cô cả tâm hồn và tính cách. Vào thời đó, do làng quê thuộc vùng kháng chiến, nên gia đình Dạ Ngân cũng như nhiều nhà khác chuyển vào cứ để tham gia đánh giặc.
Cho dù bom đạn liên miên và điều kiện sống trong vùng sâu rất khắc nghiệt; nhưng với nhà văn, những ngày tháng ấy vẫn rất khó quên vì có nhiều kỷ niệm đẹp. Tuổi thơ và tuổi thanh xuân của Dạ Ngân đã phải chứng kiến nhiều mất mát đau thương của chiến tranh, phải chứng kiến sự ra đi của những người thân yêu. Đó không phải là sự trả giá tất yếu của chiến thắng hay cho sự trọn vẹn thống nhất hai miền, nhưng quả thật bên cạnh tinh thần quật khởi của người dân miền Nam tham gia kháng chiến, tinh thần yêu nước và sự hy sinh tất cả vì đất nước, Dạ Ngân cũng thấu hiểu những bi thương mà người dân phải gánh chịu cả trước, trong và sau cuộc chiến. Những ngày tháng ấy dường như luôn thường trực trong kí ức và đã để lại “dấu ấn” trong các tác phẩm của nhà văn.
Dạ Ngân đến với văn chương ngẫu nhiên từ thời chiến tranh nhưng cũng có thể coi đó là sự tự ý thức của chính bản thân tác giả là phải kể lại chân thực về những gì đã xảy ra và: “phải viết hay hơn, phải viết cho hay mỗi ngày để được yêu thương, khi được các thầy cô tiên đoán sẽ trở thành nhà báo hay nhà văn gì đó” [37]. Những ngày ở trong cứ, vừa học vừa thực hành làm báo ở Khu 9 (U Minh), Dạ Ngân được đến thư viện của Ban Tuyên huấn Tây Nam bộ. Tại đây tác giả được tiếp xúc lần đầu với Sông Đông êm đềm, Chiến tranh và Hòa bình, Tội ác và Trừng phạt, Bông Hồng Vàng, Những người khốn khổ, Chuông nguyện hồn ai… kể cả những tác phẩm của những nhà văn trong nước như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Huy Cận, Hoài Thanh, Nguyên Ngọc và cả Nguyễn Quang Sáng. Suốt quãng thời gian đó, lúc nào chị cũng “ôm sách và ôm đèn dầu, mặc cho các chú trong 10 khu ủy bắt tắt đèn dầu để lấy sức cho hôm sau” [37].
Niềm đam mê sách khi được tiếp xúc với những tác phẩm văn chương nổi tiếng trên thế giới hồi ở khu căn cứ cùng với những trải nghiệm của thời chiến tranh đã thôi thúc Dạ Ngân ngồi vào bàn thử sức bằng thể loại truyện ngắn và bút ký. Lúc đầu, chỉ là những mẫu truyện nhỏ in trên báo Văn nghệ nhưng được khen có chất văn học, nên nhà văn có động lực viết tiếp. Tác phẩm văn chương với Dạ Ngân đầu tiên như là những suy nghĩ, cảm xúc, giải bày về cuộc sống, về những gì được chứng kiến. Trại sáng tác Vũng Tàu tháng 4 năm 1982, lần đầu Dạ Ngân tham dự là dấu mốc quan trọng làm thay đổi nhận thức của nhà văn về nghề viết.
Tại đây, Dạ Ngân được gặp, trò chuyện, trao đổi với nhiều tác giả đã nổi tiếng như Nguyễn Quang Thân, Nhật Tuấn, Nguyễn Mạnh Tuấn, Đào Hiếu, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Nhật Ánh, Lý Lan, Trần Thùy Mai, Đinh Thị Thu Vân… Nhà văn Nguyên Ngọc và một số nhà văn khác phụ trách trại sáng tác này. Khi nghe các nhà văn lớn nói về tác giả Nobel này, tác giả Nobel kia, tác phẩm nào, tác giả nào đang được dư luận thế giới chú ý, Dạ Ngân hiểu mình còn chưa chuẩn bị gì, chưa thực sự có kiến thức nền tảng về văn hóa và nghề viết dù mình đã viết, đã sáng tác. Điều may mắn là bà đã không nản chí bỏ cuộc mà lao đầu vào “trường văn trận bút” quyết liệt hơn. Sau khi bế mạc trại viết năm 1982 ấy, về lại Cần Thơ, Dạ Ngân dành gần hai năm chăm chỉ đi thư viện để đọc và thu thập thêm kiến thức.
Cũng trong năm 1982, truyện ngắn Quãng đời ấm áp của Dạ Ngân đã gây được sự chú ý cho nhiều người đọc khi xuất hiện trên tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn. Nhiều người ngạc nhiên vì tác giả có cách viết chững chạc, giàu nữ tính, có khả năng đi sâu vào những diễn biến phức tạp trong nội tâm nhân vật. Truyện ngắn này cũng được nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá tốt trong một lần nhà văn ghé đến miền Tây và được nhà thơ Nguyễn Bá của Hội văn nghệ tỉnh Cần Thơ mời ở lại. 11 Sau sự kiện dự trại viết năm 1982 và tự trang bị được một số kiến thức văn học, văn hóa, ngòi bút của Dạ Ngân dường như vững vàng, tự tin hơn nhiều.
Năm 1985, truyện ngắn Con chó và vụ ly hôn ra đời. Ngay lập tức, tác phẩm được các nhà văn và dư luận quan tâm đặc biệt. Các nhà nghiên cứu đánh giá cao bút lực của tác giả không phải vì dám phơi bày thẳng thắn những chuyện thầm kín, khó nói của đời sống vợ chồng, mà chính là khả năng đi sâu vào những trạng thái tâm lý tinh vi, phức tạp, khó định hình nhất của nhân vật. Từ đây, bên cạnh một số nhà văn nữ trẻ được dư luận chú ý trong thập niên 90 như Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thùy Mai, Lý Lan…, có thêm cái tên Dạ Ngân.
Chăm chỉ, cần cù, chịu khó học hỏi, Dạ Ngân khiến nhiều người mến phục vì bà không dựa vào kinh nghiệm sống để viết, không tự hào khoe những đóng góp trong kháng chiến mà viết bằng tất cả những khao khát được viết, được chia sẻ, được sống trong không khí sáng tạo nghệ thuật cùng với mọi người. Tác phẩm của Dạ Ngân chủ yếu là thể loại truyện ngắn. Cũng như nhiều người, phần lớn những truyện ngắn này đều được gửi đăng trên các báo, tạp chí trước khi tập hợp và xuất bản thành sách. Dạ Ngân cũng đã thử sức với nhiều thể văn xuôi khác nhau và mỗi thể văn đều có những thành công nhất định, nhưng truyện ngắn vẫn chiếm thế mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng.
Sau thành công của tập truyện ngắn Quãng đời ấm áp được xuất bản năm 1982, tập Con chó và vụ ly hôn in năm 1992 khiến vị trí, tên tuổi của nhà văn được khẳng định; Dạ Ngân viết nhanh và tự tin hơn. Năm 1993, Dạ Ngân có thêm tập Cõi nhà tiếp đó nhà văn cho ra mắt tập Truyện ngắn chọn lọc năm 1995, Nhìn về phía khác in năm 2002 và sau này là Nước nguồn xuôi mãi năm 2008 và tập Chưa phải ngày buồn nhất in năm 2012. Nếu Nước nguồn xuôi mãi là những tháng năm buồn vui với Hà Nội thì Chưa phải ngày buồn nhất hoàn toàn thuộc về những ngày làm cư dân mới của Sài Gòn. Ngoài ra, còn có một số truyện ngắn Dạ Ngân sáng tác sau 12 này, đăng rải rác ở các báo, tạp chí văn nghệ, mãi đến năm 2017 mới tập hợp lại và in thành tập truyện Người yêu dấu và những truyện khác, tập truyện gồm 1 truyện dài có độ nén của 1 tiểu thuyết và 9 truyện ngắn là những lát cắt đời sống trên cái phông xã hội hậu chiến, từ sau giải phóng đến hiện đại.
Có thể nói, Dạ Ngân viết khá nhiều truyện ngắn và những tác phẩm đó đã để lại những cảm xúc, ấn tượng trong lòng bạn đọc, gợi những dư âm trong lòng người đọc về tình người, tình đời. Dạ Ngân viết tiểu thuyết từ khá sớm. Năm 1989, có tác phẩm Ngày của một đời. Nhưng phải đến khi Gia đình bé mọn xuất bản lần đầu năm 2005, thì đây được coi là “bản dập”, là máu thịt của cuộc đời Dạ Ngân.
Gia đình bé mọn được xem là cuốn tiểu thuyết thành công trong sự nghiệp văn chương của Dạ Ngân và gắn liền với tên tuổi của bà. Nhắc đến Dạ Ngân, nhiều người đọc sẽ nghĩ ngay đến Gia đình bé mọn, giống như nói đến Nam Cao là nhắc Chí Phèo, nhớ Ngô Tất Tố là nhớ đến Tắt đèn vậy. Đó là niềm hạnh phúc mà không phải nhà văn nào cũng có được. Tác phẩm Gia đình bé mọn được nhận liền hai giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội (2005) và Hội nhà văn Việt Nam (2006) với số phiếu tuyệt đối.
Đồng thời đây cũng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của một nhà văn nữ Việt Nam được nhà xuất bản Curbstone press dịch sang tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ với sự chuyển ngữ của bà Rosemary Nguyễn – một người phụ nữ nói tiếng Việt giỏi nổi tiếng của nước Mĩ. Tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn đối với giới phê bình nghiên cứu văn học lúc bấy giờ. Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến cũng nhận xét: “Có thể đọc Gia đình bé mọn như một tiểu thuyết có đề tài rộng hơn” [18]. Ngoài truyện ngắn và tiểu thuyết, Dạ Ngân còn viết truyện dài.