CHƯƠNG 1:VỊ TRÍ TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO VÀ LỖ TẤN TRONG DÒNG VĂN XUÔI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC Đã có rất nhiều công trình lí giải nguyên nhân sự “gặp gỡ” giữa Nam Cao và Lỗ Tấn. Và đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở quan điểm cho rằng sự “gặp gỡ” trong sáng tác của hai nhà văn này có nguyên nhân xuất phát từ sự tương đồng về thời đại, hoàn cảnh xã hội mà hai nhà văn đã sinh sống; về nguồn gốc xuất thân; về sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực phương Tây, đặc biệt là văn học Nga trong sáng tác của hai nhà văn. Những yếu tố khách quan đó đã in dấu ấn đậm nét trong quan niệm, trong tư tưởng sáng tác văn chương của Nam Cao và Lỗ Tấn; chi phối đến việc lựa chọn nội dung và hình thức nghệ thuật trong các sáng tác của hai nhà văn. Vì thế, khi tìm hiểu về sự “gặp gỡ” trong bút pháp tự sự của Nam Cao và Lỗ Tấn, cần phải làm rõ sự tương đồng về bức tranh thời đại và con người của hai nhà văn.
Điều đó được xem như là tiền đề, là cơ sở để lí giải nguyên nhân sự “gặp gỡ” trong sáng tác của Nam Cao và Lỗ Tấn, không chỉ ở phương diện nội dung, đề tài mà còn ở phương diện kĩ thuật viết tự sự, đặc biệt là tài năng viết tự sự của hai nhà văn đã được kết tinh tuyệt vời ở thể loại truyện ngắn. Bức tranh thời đại và con người của Nam Cao và Lỗ Tấn 1. Bức tranh thời đại Mỗi con người khi được sinh ra đều không có quyền lựa chọn cho mình một thời đại sống hoàn hảo nhất. Nhưng lịch sử nhân loại vẫn luôn ghi nhận được những vì sao sáng giữa trời đêm của lịch sử, những con người bất tử dù phải thở trong bầu không khí tang thương của thời đại.
Lịch sử thời đại không hoàn hảo chính là một phần căn nguyên dẫn đến những sáng tác bất hủ của những nhà văn vừa có tài vừa có tâm trong hoàn cảnh bi thương ấy. Nam Cao và Lỗ Tấn là hai ngôi sao văn học đã được lịch sử văn chương Việt Nam và Trung Quốc ghi nhận ngay trong chính giai đoạn tưởng chừng như không thể tối tăm hơn nữa trong lịch sử dân tộc của hai nước. Bức tranh xã hội nhiều biến động, rối ren Mặc dù Nam Cao và Lỗ Tấn sinh sống không cùng một thời đại nhưng thể chế đất nước và tình hình chung của xã hội ở hai thời đại ấy lại có những điểm tương đồng nhau. Lỗ Tấn sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử Trung Quốc có nhiều biến động, rối ren vì bão táp chiến tranh.
Chế độ phong kiến già nua thống trị đất nước mấy nghìn năm đã đến hồi suy vong nhưng các thế lực phản động trong xã hội càng làm cho đất nước Trung Quốc trở nên đắm chìm trong bế tắc. Đặc biệt, sau cuộc chiến tranh Nha phiến bốn mươi năm, thế lực đế quốc cậy có vũ khí hiện đại đã không ngừng xâm lược Trung Quốc, tập đoàn thống trị nhà Thanh thối nát, sa đọa, bó tay ngồi nhìn, nhượng bộ từng bước; đất nước Trung Quốc lâm vào cảnh nửa phong kiến, nửa thuộc địa. Sự phân hóa xã hội ngày càng trở nên gay gắt. Nhân dân Trung Hoa chưa lúc nào phải chịu nhiều ách thống trị làm cho cơ cực đến thế.
Trong lúc “dầu sôi lửa bỏng” như thế thì hàng loạt các cuộc khởi nghĩa oanh liệt của nhân dân Trung Hoa diễn ra như: Thái Bình Thiên Quốc, Nghĩa Hòa Đoàn, cuộc chính biến Mậu Tuất 1898.Tuy nhiên, hầu hết các cuộc khởi nghĩa này đều thất bại. Chính điều này lại càng làm cho đất nước và con người Trung Hoa trở nên bi thảm hơn trong bể máu của chiến tranh. Cuộc cách mạng Tân Hợi nổ ra với sứ mạng chống đế quốc phong kiến những tưởng có thể đem đến cuộc sống mới cho nhân dân Trung Hoa, thế nhưng, đó chỉ là một giấc mơ ảo tưởng. Người Trung Hoa không có được bất kì một lợi ích nào từ cuộc cách mạng.
Ngược lại, họ lại càng trở nên bế tắc hơn khi rơi vào tình trạng hỗn chiến dai dẳng. Cách mạng tháng Mười Nga đã làm thức tỉnh Trung Quốc bằng cuộc vận động Ngũ Tứ - cuộc cách mạng dân chủ kiểu mới. Chính cuộc cách mạng này đã thúc đẩy một cuộc cách mạng lớn khác diễn ra ở Trung Quốc. Đó là cuộc cách mạng văn hóa.
Thanh niên Trung Quốc (trong đó có cả Lỗ Tấn) bắt đầu tỉnh ngộ. Cuộc vận động Ngũ Tứ đã đánh thức “những con người đang ngủ mê trong một cái nhà hộp bằng sắt, không có cửa sổ” (Lỗ Tấn). Mặc dù không phải sống cùng một thời, cùng một bối cảnh chung của lịch sử thế giới nhưng thời đại mà Nam Cao sinh sống cũng không khác gì thời đại mà Lỗ Tấn sinh sống. Nam Cao sinh trưởng trong thời kì mà đất nước Việt Nam đang rên xiết vì chiến tranh, vì nghèo đói.
Xã hội mà Nam Cao chứng kiến là một xã hội chỉ toàn bất công và áp bức, tăm tối và ngột ngạt dưới ách thống trị của bọn thực dân phát xít và phong kiến tay sai với hàng loạt chiêu bài “Âu hóa”, “Chính sách Đại Đông Á”. Sức người, sức của bị chúng vơ vét ném vào chiến tranh đến kiệt quệ. Từ thành thị đến nông thôn đều trở nên tiêu điều, xơ xác trong chính sách bóc lột tàn nhẫn của chúng. Do phải chịu cảnh một cổ ba tròng: đế quốc Pháp, phát xít Nhật và phong kiến tay sai nên người dân Việt Nam hoàn toàn rơi vào thảm cảnh của đói nghèo, của áp bức và bất công.
Các tầng lớp nhân dân bị phân hóa sâu sắc. Cũng như ở Trung Quốc, trước tình cảnh đen tối, ngột ngạt của đất nước, một thời đại bão táp cách mạng từ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Việt Nam đã sôi sục diễn ra từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời: phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc vận động dân tộc dân chủ 1936-1939.Các phong trào yêu nước tuy bị dìm trong bể máu nhưng ngọn lửa đấu tranh vẫn âm ỉ, sục sôi, không bao giờ nguội tắt. Nhân dân Việt Nam vẫn kiên cường đứng lên chống kẻ thù và các thế lực bạo tàn. Và thành công đỉnh cao chính là cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945.
Cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một hi vọng mới cho người dân Việt Nam. Như vậy, về thể chế, hai nước đều từng bước trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến dưới sự xâm lược của các nước tư bản nước ngoài cùng với sự bám rễ của chế độ phong kiến già nua trong nước; về xã hội, tình hình xã hội của Trung Quốc và Việt Nam ở thời kì đó trở nên vô cùng rối ren và khủng hoảng hơn bao giờ hết bởi những cuộc chiến tranh diễn ra liên miên. Xã hội ấy đã đẩy cuộc sống của nhân dân hai nước lâm vào tình cảnh vô cùng khốn khổ, bế tắc nhưng nhân dân hai nước vẫn kiên cường đấu tranh để giải phóng cá nhân, giải phóng dân tộc. Bức tranh xã hội nông thôn điển hình Sinh ra và gắn bó với những làng quê nghèo, Nam Cao và Lỗ Tấn có những điểm “gặp gỡ” khi viết về nông thôn và người nông dân.
Những điểm “gặp gỡ” này chính là dấu ấn sâu đậm của bức tranh nông thôn điển hình ở hai nước được thể hiện trong sáng tác của hai nhà văn lớn. Đối với những nhà nước phong kiến tồn tại hàng nghìn năm với nền sản xuất nông nghiệp là chính yếu như Trung Quốc và Việt Nam, ngoài vua quan đứng đầu nhà nước, ở nông thôn bọn địa chủ cường hào chính là thế lực trực tiếp cai trị giai cấp nông dân. Bọn địa chủ, quan lại ở địa phương thao túng quyền hành, bóc lột nhân dân thậm tệ. Ở Trung Quốc, bộ máy cai trị ở nông thôn được khép kín, được hỗ trợ bằng tôn quyền và thần quyền của chế độ phong kiến bám rễ hàng nghìn năm hết sức chặt chẽ khiến làng xã nông thôn thường co cụm, tách biệt theo kiểu “phép vua thua lệ làng”.
Đồng thời, sự xâm nhập của tư bản nước ngoài cùng với sự thối nát của bọn thống trị phong kiến đã đẩy kinh tế nông thôn nhanh chóng suy kiệt, lụi tàn. Nông dân bị áp bức, nghèo túng. Ở Việt Nam, thời kì mà Nam Cao sinh sống, thế lực cường hào, địa chủ ở nông thôn miền Bắc trong bốn mươi lăm năm đầu thế kỉ XX vẫn nghiễm nhiên tồn tại. Chúng chia bè kéo cánh, thừa cơ tình hình xã hội rối ren để “đục nước béo cò”.
Dưới tận cùng của xã hội chính là những bần cố nông bị dồn đẩy vào bước đường cùng, không còn lối thoát. Thế lực cường hào, địa chủ ở nông thôn của Trung Quốc và Việt Nam đều có sự tương đồng ở bản chất giai cấp. Chúng tàn nhẫn bóc lột người nông dân tàn tệ, xô đẩy những người nông dân vào con đường không có lối thoát hay phải biến dạng, biến chất. Mặc dù, xã hội có nhiều biến động về chính trị nhưng ở nông thôn Trung Quốc và Việt Nam, thế lực phong kiến địa chủ vẫn là thế lực thống trị tuyệt đối.
Thế lực này, một mặt, thống trị toàn bộ nền kinh tế nông thôn; mặt khác, ra sức bóc lột, đàn áp nông dân. Tuy nhiên, bối cảnh nông thôn của Trung Quốc và Việt Nam cũng ít nhiều có sự khác biệt. Trong bức tranh nông thôn ở Trung Quốc vào những năm đầu thế kỉ, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trì trệ, đình đốn trong một xã hội thuộc địa nửa thực dân, nửa phong kiến. Các thế lực phong kiến, với mấy nghìn năm cắm rễ, không thể bị lung lay, sụp đổ nhanh chóng khi giai cấp tư sản chỉ mới được hình thành với bản chất ốm yếu, què quặt.
Nông thôn Trung Quốc không có nhiều sự thay đổi khi cuộc cách mạng Tân Hợi thất bại, bọn địa chủ phong kiến vẫn còn ở địa vị thống trị. Trái lại, ở Việt Nam, vào những năm bốn mươi của thế kỉ hai mươi, thế lực địa chủ phong kiến đã có dấu hiệu đi đến chỗ thoái trào, lung lay. Đây là giai đoạn cuối đánh dấu sự tồn tại của bọn địa chủ phong kiến. Nhà nước phong kiến Việt Nam đi đến chỗ suy tàn, và sụp đổ hoàn toàn từ sau cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945.
Bức tranh văn hóa, văn học đa dạng và hiện đại Thời đại Nam Cao và Lỗ Tấn sinh sống là thời đại du nhập nhiều trào lưu văn hóa, văn học nước ngoài, đặc biệt là từ phương Tây và chủ nghĩa hiện thực Nga vào cuối thế kỉ XIX.