ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đƣợc công nhận là một trong 16 nƣớc có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao nhất thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô. tạo nên môi trƣờng sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã trên thế giới. Việt Nam đƣợc Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật. Tuy có sự đa dạng sinh học nhƣ vậy nhƣng do các hoạt động của con ngƣời nhƣ: Khai thác rừng, khai thác lâm sản, đốt nƣơng làm rẫy, các công trình xây dựng, cùng với các hoạt động khai thác không có kế hoạch đúng đắn, hợp lý nên môi trƣờng sống của sinh vật ngày càng bị thu hẹp, làm ảnh hƣởng đến đời sống kinh tế, xã hội và môi trƣờng.
Cùng với sự giảm đi về diện tích rừng tự nhiên, môi trƣờng sống của nhiều loài động thực vật rừng cũng bị thu hẹp và ngày càng bị thoái hóa nghiêm trọng. Rừng tự nhiên bị mất đã đe dọa nghiêm trọng đến tính ĐDSH của Việt Nam. Tƣơng lai con ngƣời sẽ bị đe dọa khi tình trạng suy thoái tài nguyên rừng vẫn tiếp tục. Vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn ở Việt Nam khi mà phần lớn ngƣời dân miền núi sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng.
Nếu nhƣ năm 1943 diện tích rừng nƣớc ta còn khoảng 14,3 triệu ha, tƣơng ứng với độ che phủ 43%, thì đến năm 1995 diện tích đất rừng chỉ còn lại 9,3 triệu ha. Với nhiều nỗ lực trong việc khôi phục vốn rừng, đến năm 2010 tổng diện tích rừng trong cả nƣớc gần 40% đất đã có rừng. Vƣờn quốc gia Pù Mát đƣợc chuyển từ Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát từ ngày 8 tháng 11 năm 2001 theo quyết định số 174 - TTG của Thủ tƣớng Chính phủ. Do điều kiện tự nhiên và khí hậu ở Vƣờn quốc gia Pù Mát đa dạng và phong phú nên tính ĐDSH ở vùng này rất cao.
1 Vƣờn quốc gia Pù Mát đƣợc các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc đánh giá là một trong những khu bảo tồn có giá trị ĐDSH cao của khu vực miền trung và cả nƣớc. Cùng với sự đa dạng của các loài thực vật, động vật bậc cao, các loài côn trùng cũng là một nhóm sinh vật có sự đa dạng cao. Trong lớp Côn trùng (Insecta) các loài thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) và bộ Cánh cứng (Coleoptera) thƣờng đƣợc sự quan tâm chú ý của nhiều nhà khoa học. Bộ Cánh cứng là nhóm côn trùng với số lƣợng loài lớn nhất đƣợc biết đến (chiếm khoảng 30% tất cả các dạng sống đã biết).
Khoảng 40% côn trùng đƣợc mô tả là Cánh cứng (khoảng 300.000 loài) và ngày càng nhiều loài mới đƣợc khám phá. Các số liệu nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý đƣa ra những giải pháp hữu hiệu trong công tác bảo tồn ĐDSH nhằm giữ lại những nguồn gen quý hiếm và phát triển bền vững tài nguyên rừng. Cho đến nay, những chƣơng trình nghiên cứu và khám phá nguồn tài nguyên rừng ở VQG Pù Mát vẫn đang đƣợc tiếp tục triển khai ở các mức độ khác nhau. Trên thực tế tƣ liệu về bộ Cánh cứng rất ít, rất nghèo nàn.
Đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn quốc gia Pù Mát và đề xuất biện pháp quản lý" đƣợc thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu về bộ Cánh cứng để thấy đƣợc sự phong phú và thực trạng về nguồn tài nguyên sinh vật này. Và đƣa ra các giải pháp phù hợp góp phần bảo vệ và phát triển các loài côn trùng có ích tại VQG Pù Mát là rất cần thiết và cấp bách. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Tình hình nghiên cứu về côn trùng Cánh cứng trên thế giới Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năm 1745. Hội côn trùng Nga đƣợc thành lập năm 1859.
Nhà côn trùng Nga Keppen (1882 - 1883) đã xuất bản cuốn sách gồm ba tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập nhiều đến côn trùng thuộc bộ Cánh cứng. Sprengel (1750 - 1816) năm 1793, ông đã mô tả mối quan hệ giữa cấu tạo của hoa và quả trình thụ phấn nhờ côn trùng, lần đầu tiên vai trò thụ phấn cho hoa đƣợc giải thích. Lamarck (1744 - 1829) cũng đã có nhiều đóng góp trong phân loại côn trùng (http://vi. Về phân loại năm 1910 – 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài in trong 31 tập.
Năm 1965 Viện hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng phần thuộc Châu Âu, trong đó có tập thứ 5 chuyên về phân loại bộ Cánh cứng (Coleoptera) trong tập này đã xây dựng bảng tra.N Boronxop đã viết giáo trình “Côn trùng rừng” trong tác phẩm này đã đề cập đến nhiều loài côn trùng bộ Cánh cứng. Năm 1966 Bey - Bienko đã phát hiện và mô tả đƣợc 300.000 loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng. Đó là điểm qua về một số mốc lịch sử nổi bật sự phát triển nghiên cứu côn trùng của thế giới. Vì côn trùng là một lớp phong phú nhất trong giới động vật.
Trên thế giới đã phát hiện hơn 300.000 loài thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera), chúng chiếm tới 40% các loài côn trùng và khoảng 30 % các loài động vật đã biết. Tình hình nghiên cứu về côn trùng Cánh cứng ở Việt Nam Các nghiên cứu về côn trùng cũng nhƣ côn trùng thuộc bộ Cánh cứng trong nƣớc nhìn chung không nhiều, đặc biệt là côn trùng lâm nghiệp. Một số nghiên cứu đã đƣợc thực hiện chủ yếu tập trung vào nhóm côn trùng có hại, biện pháp phòng trừ và chỉ vài nghiên cứu về côn trùng có ích. Nhƣng nói chung những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức độ là báo cáo, tài liệu giảng dạy và trong phạm vi hẹp đối với một số loài đại diện.
Trên thực tế, ở nƣớc ta chƣa có tài liệu đầy đủ về côn trùng để phục vụ công tác nghiên cứu, tra cứu và ứng dụng. Gần đây do yêu cầu thực tiến sản xuất và sinh thái môi trƣờng, nghiên cứu côn trùng đƣợc chú ý hơn, các nghiên cứu cơ bản về nguồn tài nguyên côn trùng đã triển khai và thu đƣợc những kết quả bƣớc đầu. Cụ thể các nghiên cứu cơ bản về tài nguyên côn trùng đáng chú ý nhƣ: Côn trùng Việt Nam đƣợc tiến hành nghiên cứu từ những năm 1879 - 1895 của các tác giả ngƣời pháp Mission Pavie, năm 1921 của Vitalis de Salvaza. Sau năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc nƣớc ta, Chính phủ đã chú trọng công tác điều tra cơ bản côn trùng nhƣ kết quả điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc Việt Nam 1967 - 1968 do Bộ Nông Nghiệp chủ trì.
“Kết quả điều tra động vật miền Bắc Việt Nam” 1981 do Giáo sƣ Đào Văn Tiến chủ trì trong đó có phần côn trùng. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc (1975) các đoàn điều tra côn trùng do các viện “Bảo vệ thực vật”, 1978 - 1979 ở đồng bằng sông Cửu Long, Viện sinh vật (1978 - 1985) ở Tây Nguyên. Nhiều đoàn chuyên gia trong và ngoài nƣớc phối hợp điều tra côn trùng trên nhiều vùng lãnh thổ nƣớc ta, đã phát hiện hàng trăm loài côn trùng mới ở nƣớc ta (Lê Xuân Huệ, 1982, 2983, 1985, 1986, 2000, Medvedev, 1982, 1985, 1988…). Năm 2007, báo cáo khoa học của Đặng Thị Đáp về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã phân tích số lƣợng Cánh cứng theo sinh cảnh, thời gian, thời tiết và độ cao ở VQG Tam Đảo - Vĩnh Phúc.
4 Nhìn chung các công trình nghiên cứu tài nguyên động vật rừng ở tỉnh Nghệ An và ở VQG Pù Mát chƣa nhiều. Năm 1964 - 1985 đoàn khảo sát động vật ký sinh trùng Việt Nam đã sơ bộ nghiên cứu ở vùng Tân Kỳ cách VQG Pù Mát không xa. Năm 1992 một đoàn khảo sát về khu hệ động vật do PGS.TS Phạm Nhật tiến hành để làm cơ sở cho việc xây dựng dự án khả thi Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát. Thông qua đợt điều tra này, bƣớc đầu đã xác định đƣợc 64 loài thú, 137 loài chim, 25 loài bò sát, 15 loài lƣỡng cƣ.
Năm 1998 - 1999, một chƣơng trình điều tra ĐDSH đã đƣợc tiến hành. Đây là công sức trí tuệ của các chuyên gia, các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc, cùng với các nhà quản lý và điều phối các hoạt động điều tra. Chƣơng trình này là một hoạt động của dự án Lâm Nghiệp Xã Hội và Bảo Tồn Thiên Nhiên (SFNC) do Cộng đồng châu Âu và Chính phủ Việt Nam tài trợ. Chƣơng trình đƣợc tổ chức Bảo Tồn Động Thực Vật Hoang Dã Quốc Tế (FFI) đảm nhận cùng với sự tham gia của các cán bộ VQG Pù Mát dƣới sự giám sát của Bộ phận quản lý bảo tồn dự án SFNC.
Tổng cộng có 55 nhà khoa học và 17 cán bộ VQG Pù Mát đã tham gia vào chƣơng trình này.01: Kết quả điều tra ĐDSH TT Hạng mục Số loài 1 Thực vật 1.208 2 Bƣớm ngày 305 3 Bƣớm đêm 94 4 Lƣỡng cƣ và bò sát Ếch nhái 23 Rùa 11 Thằn lằn 12 Rắn 25 5 Thú nhỏ 20 6 Dơi 39 7 Thú lớn 42 8 Chim 295 (nguồn : Dự Án SFNC năm 1998 – 1999) 5 Đặc biệt, chƣơng trình bẫy ảnh tự động đã tiến hành liên tục từ năm 1998 - 2002 với hàng trăm bức ảnh chụp đƣợc chủ yếu là các loài thú lớn và đã minh chứng sự hiện diện các loài thú trong VQG Pù Mát. Năm 2004, báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Điều tra cơ bản ĐDSH côn trùng, chim tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An” của Lê Xuân Huệ đã xác định tên và thống kê khu vực nghiên cứu đƣợc 1084 loài côn trùng thuộc 64 họ của 7 bộ. Trong đó bộ Cánh phấn có số lƣợng loài nhiều nhất 434 loài, tiếp theo là bộ Cánh cứng đã định tên đƣợc 318 loài, bộ Cánh nửa có 143 loài, bộ Cánh màng định tên đƣợc 113 loài, bộ cánh phấn 207 loài. Năm 2006, báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm của họ Bọ hung (Scarabaeidae) ở VQG Pù Mát và đề xuất các giải pháp quản lý” của Đặng Văn Liêu đã xác định đƣợc 39 loài Bọ hung khác nhau.