Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam được công nhận là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với nhiều hệ sinh thái rừng, đầm lầy, sông suối và rạn san hô, tạo sinh cảnh cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang dã toàn cầu. Nước ta được Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) xác định có 3 vùng sinh thái toàn cầu, Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế (BirdLife) công nhận 1 trong 5 vùng chim đặc hữu, và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) ghi nhận 6 trung tâm đa dạng thực vật. Tuy nhiên, diện tích rừng tự nhiên suy giảm mạnh (từ 14,3 triệu ha năm 1943 tương ứng độ che phủ 43%, giảm xuống còn 9,3 triệu ha năm 1995, và đạt gần 40% vào năm 2010 nhờ các nỗ lực phục hồi) do áp lực khai thác lâm sản, đốt nương làm rẫy và xây dựng công trình, làm suy thoái môi trường sống của nhiều loài động thực vật.

Vườn quốc gia (VQG) Pù Mát được chuyển đổi từ Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát theo Quyết định số 174/QĐ-TTg ngày 08 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ, là khu vực bảo tồn có giá trị đa dạng sinh học cao ở vùng Bắc Trung Bộ. Trong lớp Côn trùng (Insecta), bộ Cánh cứng (Coleoptera) là nhóm có số lượng loài lớn nhất trong sinh giới (chiếm khoảng 40% tổng số loài côn trùng và khoảng 30% các dạng sống đã biết, với hơn 300.000 loài đã được mô tả trên thế giới). Mặc dù giữ vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, phân hủy mùn bã hữu cơ và thụ phấn, nguồn tư liệu nghiên cứu chuyên sâu về bộ Cánh cứng tại VQG Pù Mát còn rất hạn chế. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Thanh Hải thực hiện đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm của côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn quốc gia Pù Mát và đề xuất biện pháp quản lý" nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác bảo tồn và quản lý tài nguyên côn trùng tại khu vực.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định được thành phần loài trong bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại khu vực nghiên cứu.
  2. Đánh giá được tính đa dạng sinh học của bộ Cánh cứng tại VQG Pù Mát.
  3. Đề xuất được các giải pháp quản lý các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại VQG Pù Mát.

Nhiệm vụ nghiên cứu được triển khai qua 5 nội dung chính:

  1. Xác định thành phần loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu.
  2. Đánh giá tính đa dạng của côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu (đa dạng về hình thái, tập tính, sinh thái, vai trò hệ sinh thái).
  3. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của các loài côn trùng chủ yếu tại khu vực nghiên cứu.
  4. Đánh giá ảnh hưởng của con người đến bộ Cánh cứng (ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp).
  5. Đề xuất giải pháp quản lý côn trùng thuộc bộ Cánh cứng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera).
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại 5 trạm/khu vực thuộc VQG Pù Mát (trạm Khe Kèm, trạm Khe Bu, trạm Khe Thơi, trạm Tam Đình, khu vực Trụ sở chính VQG Pù Mát) và phòng tiêu bản Trường Đại học Lâm nghiệp.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ ngày 20/02/2011 đến ngày 13/05/2011; thời gian điều tra thu thập số liệu thực địa diễn ra từ ngày 20/02/2011 đến ngày 20/04/2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa có chọn lọc hệ thống lý thuyết phân loại học côn trùng thế giới và Việt Nam, tài liệu điều tra cơ bản sâu bệnh hại lâm nghiệp, cùng các báo cáo khoa học tại VQG Pù Mát:

  • Kế thừa các công trình nghiên cứu côn trùng học kinh điển của Keppen (1882 - 1883), Sprengel (1793), Lamarck (1744 - 1829), Volka và Sonkling (1910 - 1940), Boronxop, Bey-Bienko (1966).
  • Kế thừa các nghiên cứu côn trùng tại Việt Nam của Mission Pavie (1879 - 1895), Vitalis de Salvaza (1921), Đào Văn Tiến (1981), Lê Xuân Huệ (1982, 1983, 1985, 1986, 2000, 2004), Medvedev (1982, 1985, 1988), Đặng Thị Đáp (2007) và Đặng Văn Liêu (2006).
  • Sử dụng kết quả điều tra đa dạng sinh học của Dự án Lâm nghiệp Xã hội và Bảo tồn Thiên nhiên (SFNC, 1998 - 1999) do Tổ chức Bảo tồn Động thực vật Hoang dã Quốc tế (FFI) thực hiện, tài liệu kiểm kê rừng (1999 - 2000), điều tra thực vật của Nguyễn Ngọc Chính (1992 - 1993) và hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1998).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm các kỹ thuật điều tra thực địa và phân tích phòng thí nghiệm:

  1. Thiết lập tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn (ÔTC):
  • Tuyến điều tra: Lập 5 tuyến điều tra đi qua các dạng sinh cảnh và trạng thái rừng khác nhau:
    • Tuyến Khe Kèm (xã Châu Khê): Dài 6 km, từ bản Khuồi đến thác Kèm; gồm 3 điểm điều tra và 1 bẫy đèn.
    • Tuyến Khe Bu: Dài 7 km, từ bản Bu đến Khe Bu; gồm 3 điểm điều tra và 1 bẫy đèn.
    • Tuyến Khe Thơi: Dài 5 km, từ bản Tùng Hương đến Khe Mặt; gồm 3 điểm điều tra và 1 bẫy đèn.
    • Tuyến Rừng Săng Lẻ: Diện tích 71 ha tại vùng đệm dọc Quốc lộ 7; gồm 5 điểm điều tra.
    • Tuyến Khu vực văn phòng VQG: Tận dụng hệ thống bóng đèn cao áp bảo vệ tại 4 khu nhà chính.
  • Ô tiêu chuẩn: Thiết lập tổng cộng 21 ô tiêu chuẩn (diện tích mỗi ô là $500\text{ m}^2$, kích thước $20\text{ m} \times 25\text{ m}$) trên các tuyến hoặc xem các vị trí đặt bẫy đèn thu mẫu đêm là 1 ÔTC.
  1. Phương pháp thu thập mẫu thực địa:
  • Thu mẫu ban ngày: Dùng vợt bắt các cá thể đang bay hoặc đậu trên cành cao; dùng tay đào bới trong hang đất, bãi phân, hốc cây; rung cành nhẹ và hứng vợt phía dưới đối với côn trùng ăn hoa lá.
  • Thu mẫu ban đêm: Sử dụng bóng đèn tròn $75\text{ W} - 220\text{ V}$ thắp sáng từ 19h00 đến 23h00 kết hợp màn vải trắng tại các điểm điều tra gần khu dân cư; thu thập mẫu côn trùng xu quang tại các bóng đèn cao áp thuộc khu văn phòng VQG.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phỏng vấn người dân bản địa sống tại vùng đệm bằng phiếu điều tra câu hỏi mở để ghi nhận thông tin về các loài Cánh cứng và mức độ tác động của con người.
  1. Phương pháp xử lý tiêu bản và phân tích số liệu:
  • Xử lý mẫu: Làm chết mẫu sống bằng ống thủy tinh chứa hóa chất độc, ngâm giữ trong dung dịch phooc môn, thấm khô. Cắm kim côn trùng chuyên dụng vuông góc với trục cơ thể qua vai cánh trước (1/3 chiều dài kim nằm trên mẫu, 2/3 nằm dưới mẫu) rồi cố định lên tấm xốp mịn. Đối với mẫu kích thước nhỏ, dùng keo dán lên giấy bìa hình tam giác nhọn trước khi cắm kim.
  • Định loại: Giám định hình thái và phân loại theo bảng danh lục.
  • Xử lý thống kê: Áp dụng phương pháp thống kê toán học theo tài liệu "Điều tra, dự tính, dự báo sâu bệnh hại trong lâm nghiệp". Chỉ số tỷ lệ bắt gặp ($P%$) được tính theo công thức: $$P% = \frac{\sum \text{Số điểm có loài xuất hiện}}{21} \times 100$$
  • Phân cấp độ bắt gặp:
    • Loài ngẫu nhiên bắt gặp ($+$): $P% \le 25%$
    • Loài ít gặp ($++$): $25% < P% < 50%$
    • Loài thường gặp ($+++$): $P% \ge 50%$

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ 21 ÔTC tại VQG Pù Mát; dữ liệu thứ cấp từ Ban Quản lý VQG Pù Mát, Cục Thống kê tỉnh Nghệ An (2004) và Dự án SFNC.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các mốc lịch sử nghiên cứu côn trùng học:

  • Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Thành lập Hội Côn trùng học Anh (1745), Hội Côn trùng học Nga (1859); công trình côn trùng lâm nghiệp của Keppen (1882 - 1883); nghiên cứu thụ phấn của Sprengel (1793); công trình phân loại 240.000 loài bộ Cánh cứng trong 31 tập của Volka và Sonkling (1910 - 1940); giáo trình "Côn trùng rừng" của Boronxop; Bey-Bienko (1966) phát hiện và mô tả 300.000 loài Cánh cứng.
  • Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam: Các công trình thời Pháp thuộc của Mission Pavie (1879 - 1895), Vitalis de Salvaza (1921); các đợt điều tra diện rộng sau năm 1954 tại miền Bắc (1967 - 1968), điều tra động vật của Đào Văn Tiến (1981); các đợt khảo sát sau năm 1975 ở Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên của Viện Bảo vệ thực vật và Viện Sinh vật.
  • Nghiên cứu tại VQG Pù Mát: Đoàn khảo sát của Phạm Nhật (1992); Dự án SFNC và FFI (1998 - 1999) ghi nhận 1.208 loài thực vật, 399 loài bướm (305 bướm ngày, 94 bướm đêm), 71 loài bò sát - lưỡng cư, 101 loài thú (42 thú lớn, 20 thú nhỏ, 39 dơi), 295 loài chim; nghiên cứu của Lê Xuân Huệ (2004) ghi nhận 1.084 loài côn trùng thuộc 64 họ của 7 bộ (bộ Cánh cứng có 318 loài); nghiên cứu của Đặng Văn Liêu (2006) ghi nhận 39 loài thuộc họ Bọ hung (Scarabaeidae).

Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết các yếu tố sinh cảnh và dân sinh tại địa bàn:

  • Vị trí địa lý và địa hình: VQG Pù Mát nằm ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An ($18^\circ 46' - 19^\circ 12'\text{N}$, $104^\circ 24' - 104^\circ 56'\text{E}$), có 61 km đường biên giới giáp Lào. Diện tích vùng lõi là 94.275 ha (theo số liệu hiện trạng rừng) / 94.400 ha, vùng đệm rộng khoảng 86.000 ha thuộc 16 xã của 3 huyện: Anh Sơn (5 xã), Con Cuông (7 xã), Tương Dương (4 xã). Địa hình phân hóa thành 4 dạng: Núi cao trung bình (đỉnh Pulaileng 2.711 m, Rào Cỏ 2.286 m), núi thấp và đồi cao ($< 1.000\text{ m}$), thung lũng kiến tạo xâm thực ($< 300\text{ m}$), và khối đá vôi nhỏ (7.057 ha, trong đó 150 ha ở vùng lõi).
  • Khí hậu và thủy văn: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng gió Tây khô nóng (tháng 5 - 7 nhiệt độ tối cao vượt $40^\circ\text{C}$, độ ẩm $< 30%$). Nhiệt độ trung bình năm $23 - 24^\circ\text{C}$, độ ẩm trung bình $85 - 86%$ (mùa mưa đạt $90%$). Lượng mưa trung bình năm $1.300 - 1.400\text{ mm}$ (trạm Tương Dương $1.268\text{ mm}$, Con Cuông $1.791\text{ mm}$). Mạng lưới sông Cả cùng các phụ lưu Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khặng cung cấp hơn 3 tỷ $\text{m}^3$ nước mặt.
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội: Dân số vùng đệm có 16.954 hộ với 93.335 nhân khẩu thuộc 8 dân tộc: Thái (66,89%), Khơ Mú (14,75%), Kinh (11,25%), H'Mông (3,98%), Đan Lai (1,60%), Poọng (0,87%), Ơ Đu (0,60%), và dân tộc khác (0,06%). Đất lâm nghiệp chiếm trên 64% diện tích tự nhiên (nhiều xã vùng lõi $> 70%$). Đời sống phụ thuộc vào nông nghiệp và tài nguyên rừng; còn 23% số hộ thiếu lương thực lúc giáp hạt; 30% người dân bản Đan Lai thuộc vùng bảo vệ nghiêm ngặt còn mù chữ.
  • Hiện trạng rừng và thực vật: Độ che phủ rừng đạt 98%, rừng nguyên sinh và ít tác động chiếm 76%. Cơ cấu rừng gồm: Rừng giàu (25,4%), rừng trung bình (32,4%), rừng nghèo (31,3%), rừng phục hồi (4,1%), rừng tre nứa và hỗn giao tre nứa (4,9%), rừng núi đá (0,1%), đất khác (1,8%). Thảm thực vật phân loại thành 5 kiểu chính/phụ: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (46,5%), rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng lá kim ẩm á nhiệt đới (29%), kiểu phụ thứ sinh nhân tác (21%), kiểu phụ rừng lùn đỉnh núi (1,7%), trảng cỏ cây bụi (1,4%), đất canh tác và nương rẫy (0,4%). Hệ thực vật ghi nhận 1.297 loài thuộc 607 chi, 160 họ của 6 ngành thực vật bậc cao; có 37 loài trong Sách Đỏ Việt Nam, 20 loài trong Danh lục đỏ IUCN (2002), 330 loài cây gỗ và 197 loài cây thuốc.

Chương 3: Đối tượng, mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này xác lập quy chuẩn thực hiện đề tài:

  • Trình bày cụ thể đối tượng, phạm vi không gian tại 5 trạm/khu vực và thời gian nghiên cứu (20/02 - 13/05/2011).
  • Trình bày chi tiết cấu trúc 5 nội dung nghiên cứu.
  • Chi tiết hóa quy trình thiết lập 5 tuyến khảo sát, vị trí và đặc điểm thực bì của 21 ÔTC ($500\text{ m}^2/\text{ô}$), thiết bị sử dụng (địa bàn, bản đồ địa hình, máy ảnh, bẫy đèn tròn $75\text{ W}$, hộp nhựa, phooc môn, vợt, phiếu điều tra).
  • Trình bày kỹ thuật chế tác tiêu bản chuẩn côn trùng và công thức tính toán tần suất bắt gặp $P%$.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 phân tích toàn diện các kết quả thực nghiệm thu được:

  • Thành phần loài: Thu thập và định loại được 56 loài côn trùng Cánh cứng thuộc 8 họ khác nhau.
  • Đa dạng về hình thái: Mô tả các biến đổi thích nghi của phần đầu (râu đầu hình sợi chỉ ở họ Xén tóc Cerambycidae, hình đầu gối lá lợp ở họ Bọ hung Scarabaeidae, hình răng cưa ở họ Bổ củi Elateridae, hình dùi trống ở họ Bọ rùa Coccinellidae và họ Vòi voi Curculionidae; miệng gặm nhai với hàm trên phát triển); phần ngực (mảnh lưng ngực kéo dài dạng sừng, chân trước dạng đào bới ở Scarabaeidae và Dynastidae; cánh cứng hoặc mềm ở Lampyridae); và phần bụng rỗng gồm nhiều đốt co giãn.
  • Đa dạng về tập tính: Phân tích tập tính xu hóa (tìm kiếm thức ăn, bắt cặp, đẻ trứng) và xu quang dương. Qua 7 điểm bẫy đèn ($75\text{ W} - 220\text{ V}$ và đèn cao áp) đã thu hút và thu thập được 33 loài, trong đó nhóm Bọ hung nhỏ chiếm đa số. Tập tính kiếm ăn phân hóa giữa ban ngày (các loài ăn thực vật, hoa lá) và ban đêm (phần lớn loài thuộc họ Bọ hung, Bổ củi).
  • Đa dạng về phân bố sinh thái: Phân tích sự xuất hiện của côn trùng tại 21 ÔTC. Điểm ghi nhận số lượng loài cao nhất là ÔTC 7 (12 loài - 21,43%, rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác tại Khe Bu), ÔTC 5 (11 loài - 19,64%, nương rẫy bỏ lâu có cây tái sinh), ÔTC 18 (11 loài - 19,64%, bẫy đèn phòng bảo vệ), ÔTC 2 (10 loài - 17,86%), ÔTC 16 (10 loài - 17,86%, rừng Săng Lẻ); điểm có số loài thấp nhất là ÔTC 10 (1 loài - 1,79%).
  • Nhóm loài chủ yếu và sinh học: Xác định các loài chủ yếu gồm Xén tóc (Batocera rubus, Calldiellum sp.), Bọ hung (Oryctes rhinoceros, Xylotrupes gideon, Mimela chinensis), Bọ rùa (Menochilus sexmaculatus), Cầu cấu (Hypomeces squamosus).
  • Đánh giá tác động của con người: Tác động trực tiếp qua bẫy bắt làm thức ăn, làm thuốc hoặc tiêu diệt sâu hại; tác động gián tiếp qua khai thác gỗ (như gỗ nghiến), khai thác lâm sản ngoài gỗ, phá nương làm rẫy, cháy rừng, chăn thả gia súc dưới tán rừng và hoạt động du lịch tại thác Kèm.
  • Biện pháp quản lý: Đề xuất 7 giải pháp chung và các giải pháp chuyên biệt theo từng sinh cảnh.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã lập danh lục và thống kê cấu trúc thành phần loài bộ Cánh cứng tại VQG Pù Mát gồm 56 loài thuộc 8 họ:

STT Tên họ khoa học Tên họ tiếng Việt Số lượng loài Tỷ lệ (%) Nhóm chức năng sinh thái chính
1 Scarabaeidae Họ Bọ hung 29 51,79 Ăn phân, hại rễ, ăn lá, phân hủy chất hữu cơ
2 Curculionidae Họ Vòi voi 14 25,00 Đục thân, ăn lá, hại thực vật
3 Coccinellidae Họ Bọ rùa 4 7,14 Thiên địch ăn thịt (ăn rệp), ăn lá
4 Cerambycidae Họ Xén tóc 2 3,57 Đục thân cây, hại lá
5 Elateridae Họ Bổ củi 2 3,57 Ấu trùng hại rễ cây
6 Dynastidae Họ Bọ sừng 2 3,57 Hại rễ, ăn lá
7 Hydrophilidae Họ Cánh cứng nước 2 3,57 Thủy sinh
8 Lampyridae Họ Đom đóm 1 1,79 Phát quang sinh học, ăn thịt
Tổng 8 họ 56 100,00

Họ Bọ hung (Scarabaeidae) chiếm ưu thế tuyệt đối (51,79%) và họ Vòi voi (Curculionidae) chiếm 25,00%, phản ánh điều kiện độ ẩm cao, thảm mục dày và nguồn mùn hữu cơ dồi dào trong rừng tự nhiên Pù Mát. Nghiên cứu xác định loài có tần số bắt gặp cao nhất là Copris iris ($P% = 28,57%$), tiếp theo là Hypomeces squamosus ($P% = 23,81%$) và Onthophagus seniculus ($P% = 23,81%$).

Phân bố côn trùng theo sinh cảnh tại 21 ÔTC được tổng hợp như sau:

Nhóm ÔTC Trạng thái sinh cảnh / Vị trí Số loài thu được Tỷ lệ bắt gặp (%)
ÔTC 7 Rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác (Khe Bu) 12 21,43
ÔTC 5 Nương rẫy đã bỏ lâu có cây tái sinh (Khe Kèm) 11 19,64
ÔTC 18 Bẫy đèn tại Phòng bảo vệ 11 19,64
ÔTC 2 Rừng phục hồi sau nương rẫy (Khe Kèm) 10 17,86
ÔTC 16 Rừng Săng Lẻ 10 17,86
ÔTC 9, 15 Trảng cỏ gần dân cư / Rừng Săng Lẻ 9 16,07
ÔTC 11, 21 Rừng cây gỗ lớn tầng vượt tán / Bẫy đèn nhà nghỉ 8 14,29
ÔTC 1, 14 Trảng cỏ gần dân cư / Rừng Săng Lẻ 6 10,71
ÔTC 4, 13, 20 Bẫy đèn Khe Kèm / Rừng Săng Lẻ / Bẫy đèn nhà ăn 5 8,93
ÔTC 3 Rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác (Khe Kèm) 4 7,14
ÔTC 6, 8 Phục hồi sau nương rẫy / Bẫy đèn Khe Bu 3 5,36
ÔTC 12, 17, 19 Bẫy đèn Khe Thơi / Rừng Săng Lẻ / Bẫy đèn văn phòng 2 3,57
ÔTC 10 Rừng phục hồi sau nương rẫy (Khe Thơi) 1 1,79

Đóng góp của khóa luận:

  • Bổ sung dẫn liệu thực tế về thành phần loài (56 loài), tỷ lệ xuất hiện và đặc tính phân bố sinh thái của bộ Cánh cứng tại 5 khu vực quản lý của VQG Pù Mát.
  • Làm rõ đặc tính xu quang của côn trùng Cánh cứng tại hiện trường (thu thập được 33 loài qua bẫy đèn).
  • Đề xuất hệ thống biện pháp quản lý gồm 7 giải pháp chung (tuyên truyền giáo dục môi trường, giao khoán bảo vệ rừng, kiểm soát cháy rừng, điều hòa hoạt động du lịch, phát triển sinh kế giảm phụ thuộc rừng, tăng cường tuần tra kiểm soát lâm sản) và các giải pháp quản lý theo từng sinh cảnh nhằm bảo tồn các loài thiên địch có ích (như họ Bọ rùa Coccinellidae) và kiểm soát các nhóm loài sâu hại thân gỗ (như Cerambycidae, Curculionidae).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế do điều kiện thực hiện:

  • Thời gian nghiên cứu ngoài thực địa tương đối ngắn (khoảng 2 tháng, từ 20/02 đến 20/04/2011), chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ sinh trưởng và phát dục trong năm của các loài côn trùng.
  • Điều kiện thời tiết trong thời gian thực tập mưa nhiều, nhiệt độ một số đợt còn thấp khiến nhiều loài côn trùng vẫn trong trạng thái trú đông chưa xuất hiện, làm giảm khả năng thu bắt các loài sống trên tán cây cao (như Xén tóc, Bọ rùa).
  • Nguồn sáng bẫy đèn tại một số điểm sử dụng bóng đèn công suất thấp ($75\text{ W}$) nên hiệu quả hấp dẫn côn trùng xu quang chưa đồng đều giữa các trạm.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Kéo dài thời gian điều tra và tổ chức thu mẫu qua tất cả các mùa trong năm (mùa khô, mùa mưa, mùa sinh sản) để hoàn thiện danh lục côn trùng Cánh cứng.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát lên các đai cao trên $1.000\text{ m}$, các khu rừng nguyên sinh núi cao và sinh cảnh rừng trên núi đá vôi ở vùng lõi hiểm trở.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Tài nguyên rừng, Lâm học, Bảo vệ thực vật, Sinh thái học và Quản lý môi trường.
  • Cán bộ kỹ thuật và lực lượng kiểm lâm tại VQG Pù Mát cũng như các khu bảo tồn thiên nhiên khu vực Bắc Trường Sơn trong công tác giám sát đa dạng sinh học và dự tính dự báo sâu hại rừng.
  • Các phần đáng tham khảo: Quy trình lập 5 tuyến điều tra và 21 ô tiêu chuẩn ($500\text{ m}^2$); phương pháp thu mẫu kết hợp ngày - đêm (bẫy đèn); kỹ thuật chế tác tiêu bản côn trùng bằng kim cắm và keo dán; danh lục 56 loài Cánh cứng kèm chỉ số $P%$.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận đã ghi nhận được bao nhiêu loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại VQG Pù Mát và họ nào chiếm ưu thế?
Nghiên cứu đã thu thập và định danh được 56 loài thuộc 8 họ. Họ Bọ hung (Scarabaeidae) chiếm ưu thế lớn nhất với 29 loài (tỷ lệ 51,79%), tiếp theo là họ Vòi voi (Curculionidae) với 14 loài (25,00%), họ Bọ rùa (Coccinellidae) có 4 loài (7,14%), các họ Xén tóc (Cerambycidae), Bổ củi (Elateridae), Cánh cứng nước (Hydrophilidae), Bọ sừng (Dynastidae) mỗi họ có 2 loài (3,57%), và họ Đom đóm (Lampyridae) có 1 loài (1,79%).

Phương pháp bẫy đèn thu mẫu ban đêm được thiết lập như thế nào và đem lại kết quả gì?
Tác giả sử dụng bóng đèn tròn $75\text{ W} - 220\text{ V}$ thắp sáng từ 19h00 đến 23h00 kết hợp căng màn vải trắng tại các điểm điều tra gần khu dân cư, đồng thời tận dụng ánh sáng bóng đèn cao áp tại 4 khu nhà thuộc văn phòng VQG. Kết quả tại 7 điểm điều tra bằng ánh sáng đèn đã thu được 33 loài côn trùng, trong đó các loài thuộc họ Bọ hung nhỏ chiếm đa số.

Sinh cảnh nào ghi nhận số lượng loài côn trùng Cánh cứng cao nhất và nguyên nhân do đâu?
Ô tiêu chuẩn số 7 thuộc kiểu rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác tại Khe Bu ghi nhận số loài cao nhất (12 loài, chiếm tỷ lệ 21,43%). Nguyên nhân là do sinh cảnh này có độ mở tán lớn, nhiều ánh sáng, có gió nhẹ, thảm cây bụi và thảm tươi phát triển mạnh (cỏ lào, lá han, phân xanh), cung cấp nguồn thức ăn thực vật phong phú và điều kiện di chuyển thuận lợi cho côn trùng.

Những hoạt động nào của con người ảnh hưởng đến bộ Cánh cứng tại VQG Pù Mát?
Ảnh hưởng trực tiếp bao gồm các hoạt động bẫy bắt côn trùng làm thức ăn, làm thuốc hoặc tiêu diệt sâu hại. Ảnh hưởng gián tiếp xuất phát từ các hoạt động làm biến đổi sinh cảnh như khai thác gỗ (khai thác gỗ nghiến), thu hái lâm sản ngoài gỗ, phá rừng làm nương rẫy, đốt nương gây cháy rừng, chăn thả gia súc dưới tán rừng và hoạt động du lịch tập trung tại khu vực thác Kèm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Thanh Hải đã xác định được 56 loài côn trùng thuộc 8 họ của bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn quốc gia Pù Mát, trong đó họ Scarabaeidae chiếm tỷ lệ vượt trội với 51,79%. Công trình đã phân tích chi tiết đặc điểm hình thái thích nghi, tập tính xu quang, xu hóa và tính quy luật trong phân bố sinh thái qua 21 ô tiêu chuẩn trên 5 tuyến khảo sát thực địa. Kết quả nghiên cứu cung cấp dẫn liệu thực nghiệm có giá trị về khu hệ côn trùng lâm nghiệp và đề xuất hệ thống 7 giải pháp quản lý khả thi nhằm phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Pù Mát.