Đặt vấn đề Ở nước ta, chăn nuôi gia cầm có truyền thống lâu đời, góp phần cải thiện đời sống cho nhiều hộ nông dân. Hằng năm, ngành chăn nuôi gia cầm cung cấp khoảng 30% tổng lượng thịt các loại, chỉ đứng sau thịt lợn (chiếm 70%). Cùng với quá trình hội nhập của đất nước, ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam, đặc biệt là chăn nuôi gà đang ngày càng phát triển. Tuy nhiên, do dịch bệnh trong chăn nuôi diễn biến nhiều phức tạp và chịu tác động của các yếu tố thích nghi nên một số giống gà nhập ngoại thường có khả năng kháng bệnh kém, một số giống gà không phù hợp với thị trường tiêu thụ.
Chính vì vậy, một số giống gà địa phương đang được quan tâm để bảo tồn, khai thác và phát triển nhằm tạo ra các đàn gà có năng suất, chất lượng tốt, đáp ứng các yêu cầu trong chăn nuôi và thị hiếu người tiêu dùng. Gà của đồng bào Mông hay còn gọi là gà H’Mông, gà Mông đen, gà Mèo là một giống gà bản địa ở Việt Nam, có nguồn gốc từ một số tỉnh miền núi phía Bắc và được người dân tộc H’Mông chăn nuôi rộng rãi. Gà của đồng bào Mông là giống gà quý hiếm, đặc biệt thịt sẫm màu, xương đen, hàm lượng mỡ rất ít, thịt săn chắc, thơm ngon, được xếp vào hàng ngon nhất trong các giống gà Việt Nam hiện nay. Bên cạnh việc dùng làm thức ăn, gà của đồng bào Mông còn được nấu cao để bồi bổ sức khỏe.
Hiện nay, gà của đồng bào Mông thương phẩm được coi là đặc sản. Những năm gần đây, nhiều người chăn nuôi tại các địa phương đã đặc biệt quan tâm đến giống gà này, đây là một giống gà rất đơn giản. Sau 1 tháng úm, chúng được thả về vườn tự nhiên và phát triển rất tốt. Gà của đồng bào Mông rất thích nghi với điều kiện thời tiết, khí hậu và thích hợp với hình thức bán chăn thả của người dân địa phương.
2 Gà của đồng bào Mông dễ nuôi hơn các loại gà khác, thức ăn là các loại rau như: rau muống, rau trộn với cám ngô, bột sắn, thóc, mỗi đợt đẻ 10 - 12 quả trứng. Gà từ 133 - 141 ngày tuổi bắt đầu đẻ trứng với sản lượng 66 - 74 trứng/ gà mái/năm, tỷ lệ nở từ 77 - 79%. Đối với gà của đồng bào Mông thương phẩm (12 tuần tuổi), tỷ lệ nuôi sống đạt 94 - 97%, khối lượng cơ thể đạt 1 - 1,1 kg/con. Cho đến nay, tại tỉnh Thái Nguyên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về gà của đồng bào Mông để đưa ra những thông tin khoa học về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng của giống gà này.
Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng của gà đồng bào Mông nuôi nuôi tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu và yêu cầu 1. Mục đích nghiên cứu - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho gà của đồng bào Mông. - Xác định được một số đặc điểm ngoại hình của gà đồng bào Mông nuôi tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Xác định được khả năng sinh trưởng của gà đồng bào Mông nuôi tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Yêu cầu - Xác định một số đặc điểm ngoại hình đặc trưng của gà đồng bào Mông. - Xác định được một số chỉ tiêu sinh trưởng của gà đồng bào Mông. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả đề tài có ý nghĩa khoa học về đặc điểm ngoại hình đặc trưng và khả năng sinh trưởng của gà đồng bào Mông nuôi tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những thông tin khoa học về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng của gà đồng bào Mông nuôi tại tỉnh Thái Nguyên; là tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo ngành Chăn nuôi. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện nơi thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Trung tâm đào tạo, nghiên cứu giống cây trồng và vật nuôi thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trên địa bàn trực thuộc xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên. Cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 6 km về hướng Tây. Trung tâm có ranh rới như sau: - Hướng Đông và hướng Bắc là khu vườn cây ăn quả của khoa Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm.
- Hướng Tây giáp với Trung tâm Phát triển nông thôn SMART. - Hướng Nam giáp với vườn hoa Tường Vi garden của khoa Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm. Điều kiện tự nhiên * Khí hậu Trung tâm nằm trên địa bàn xã Quyết Thắng - TP. Thái Nguyên nên mang đặc điểm khí hậu chung của TP.
Khí hậu của TP. Thái Nguyên có những đặc điểm chung của kiểu khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chia làm 4 mùa xuân, hạ, thu, đông (mùa đông lạnh), mưa ít, mùa hè nóng ẩm (mưa nhiều). Là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. - Nhiệt độ trung bình 23,4°C, tháng cao nhất 28,3°C, tháng thấp nhất 16,3°C.
- Độ ẩm trung bình năm 85,1%, tháng cao nhất 91%, tháng thấp nhất 78%. *Diện tích, đất đai Xã Quyết Thắng có tổng diện tích 1292,78 ha, trong đó: - Diện tích lúa và cây màu: 565 ha. - Diện tích rừng: 199 ha. - Diện tích đất chuyên nghiệp: 170 ha.
Điều kiện kinh tế - xã hội Trong những năm gần đây, kinh tế xã Quyết Thắng đã tận dụng tối đa các thế mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, đa dạng về ngành nghề và nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có. Trên cơ sở đó, nhanh chóng xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp. - Dân số: Tổng dân số của xã Quyết Thắng là 12. - Xã Quyết Thắng đang từng bước đô thị hóa, nhiều dự án quy hoạch ngắn hạn và trung hạn được triển khai, trong đó trọng tâm là dự án mở rộng đường Bắc Sơn.
Trong thời gian qua, xã Quyết Thắng đã thu hút được nhiều dự án đầu tư quy mô lớn, hàng loạt tập đoàn kinh tế, công ty đầu tư vào xã như: Công ty TNHH MTV Cơ điện tử, Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Hữu Huệ, Công ty TNHH, Công ty Cổ phần Chè Tân Cương Hoàng Bình, Chợ Z115,…. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Trung tâm đào tạo và nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi được thành lập năm 2016, theo Quyết định thành lập số 113/QĐ.TCCB ngày 25/01/2016 của Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. * Chức năng của Trung tâm - Lai tạo và nghiên cứu thực nghiệm các giống cây trồng, vật nuôi thích nghi với điều kiện sinh thái ở các vùng phía Bắc. - Xây dựng các dự án quy hoạch sản xuất và phát triển giống vật nuôi, cây trồng vùng Bắc Bộ.
* Nhiệm vụ - Tham gia đào tạo nghề trong lĩnh vực nông nghiệp. 6 - Là nơi thực tập và thực hành cho sinh viên ở các khoa: Chăn nuôi thú y, Nông học,… - Sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm: rau, củ, quả, giống cây trồng và vật nuôi,. - Xây dựng các dự án quy hoạch sản xuất và phát triển giống vật nuôi, cây trồng vùng Bắc Bộ. - Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất trại gà Trại nằm xa khu dân cư.
- Tổng diện tích 7. - Gồm 2 dãy chuồng lớn và 1 dẫy chuồng nhỏ chia ô. - Nền chuồng bằng bê tông, xung quang là bê tông xây lên và hệ thống lưới chắn. - Lối đi trước cửa chuồng được lát gạch hoa sạch sẽ.
- Mái chuồng là mái tôn (thiết kế dạng 4 mái đảm bảo độ thông thoáng). - Hệ thống đèn điện đầy đủ phục vụ công tác chăn nuôi, nguồn cấp điện có điện lưới. Thắp bóng chiếu sáng đầy đủ. - Máng ăn, máng nước trong các ô chuồng được treo đầy đủ.
- Hệ thống nước tiện lợi, chảy thẳng đến khu chăn nuôi theo đường ống nước được bơm từ bể lớn, nước xả gầm,… - Các công trình phụ trợ khác: nhà kỹ thuật, khu nhà ở nhân viên của trại được tách biệt với khu chăn nuôi. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Các yếu tố liên quan đến đặc điểm ngoại hình của gà * Lông Đặc điểm di truyền của giống gà có liên quan đến lông - là dẫn xuất của da, có ý nghĩa quan trong trong việc phân loại. Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [31], quá trình mọc lông bắt đầu từ ngày thứ 7 của quá trình phát triển của phôi thai.
Bao lông rách ra và thành 7 lông tơ phôi thai khi gà con được nở ra; sau đó lông tơ dần dần được thay thế bằng lông cố định theo quá trình phát triển của gà con. Tốc độ mọc lông liên quan chặt chẽ đến cường độ sinh trưởng, những gia cầm lớn nhanh thì tốc độ mọc lông nhanh và ngược lại. (Brandsch và Billchel H. Trong cùng một dòng, gà mái có tốc độ mọc lông đều hơn gà trống và ảnh hưởng của hormone có tác dụng ngược với gen liên kết giới tính quy định tốc độ mọc lông (Hayer J.
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs, 2011 [6], tốc độ mọc lông là đặc tính di truyền có liên quan để quá trình sinh trưởng, phát triển của gia cầm. Những gia cầm non có quá trình mọc lông nhanh thì sinh trưởng pháy dục tốt trong các điều kiện khác nhau, giữa tốc độ mọc lông và khả năng sinh trưởng của cơ thể gia cần có mối tương quan thuận với nhau. Tác giả cho biết, trong công tác giống, có thể chọn những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh ngay từ khi 01 ngày tuổi theo độ dài của lông cánh và 10 ngày tuổi theo độ dài lông đuôi. Màu sắc lông do một số gen qui định, màu sắc lông phụ thuộc vào chất sắc tố chứa trong bào tương của tế bào.
Tùy theo mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (melanogen) có chứa trong các tế bào của lông. Bộ lông của gà có màu khác nhau như: màu đen, xám tro, màu tro… Lông có màu vàng, xanh hoặc đỏ là do các chất sắc tố thuộc nhóm lipoeron, trong trường hợp không có chất sắc tố thì bộ lông có màu trắng.