Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Phân loại và nguồn gốc của gia cầm 1. Phân loại gà Theo Angle L.
Lambio (2010), gà thuộc: Giới (Kingdom): Animal Ngành (Class): Aves Lớp (Order): Gallijonmes Họ (Family): Phasianidae Chủng (Genus): Gallus Loài (Species): Gallus Gallus 1. Nguồn gốc Gà (Gallus) là loài được nuôi phổ biến nhất trên toàn thế giới. Tuy nhiên về nguồn gốc của quá trình thuần hoá của chúng vẫn còn ít được biến đến. Dữ liệu DNA ty thể đầu tiên vào đầu thế kỷ 21 cho thấy rằng loài gà rừng đỏ (Gallus gallus) là tổ tiên của gà nhà bây giờ.
Một số nghiên cứu gần đây về dữ liệu bộ gen cho thấy loài Gallus gallus spp là tổ tiên của các giống gà bản địa tại các nước nhiệt đới(Thái Lan, Myanmar, tây nam Trung Quốc) (Masaki Eda, 2021) Theo tác giả Trần Thanh Vân và cs (2015) Việt Nam được coi là một trong những trung tâm thuần hóa gà đầu tiên của Đông Nam Á, gà được nuôi cách đây khoảng 3000 năm. Tác giả Masaki Eda (2021) cho rằng loài Gallus bankiwa là tổ tiên của loài gà nhà hiện nay dựa vào các đặc điểm: màu sắc lông và tiếng kêu của gà rừng đỏ và gà nhà ngày nay, về đặc điểm sinh sản của 2 loài này cũng có điểm tương đồng. Quan điểm của Darwin về nguồn gốc của gà nhà đã được công nhận rộng rãi trong các nghiên cứu ở những giai đoạn sau (Beebe, 1921; Hutt 1949). 5 Sau khi ngành khoa học về di truyền phân tử phát triển, các phân tích phân tử cho thấy mối quan hệ di truyền chặt chẽ giữa gà nhà và gà rừng đỏ: giữa 2 loài có rất nhiều protein tương tự (Angle L., 2010), đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các protein trong máu và mẫu DNA trên vân ngón chân của 2 loài gà này hoàn toàn giống nhau.
Fumihito và cs, (1996) cho biết: khi phân tích về trình tự nucleotid của DNA ti thể thì thấy gà rừng đỏ hoang dã và gà nhà giống nhau. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở gia cầm Lông vũ, mào, đôi tích, những nốt đậu, móng và mỏ là dẫn xuất của da. Lông của gà được chia thành 4 loại: lông ống, lông bông, lông kim và lông tơ. Sự khác biệt về đa dạng về màu sắc của bộ lông có thể là điều kiện địa lý, môi trường sống của các giống gà và sự chọn lọc tự nhiên và nhân tạo của chúng.
Mào là đặc điểm đặc trưng cho từng giống và trong cùng một giống được dùng để phân biệt con trống và máí. Theo Nesheim và cs. (1979), kích thước màu sắc của mào liên quan đến sự phát triển của tuyến sinh dục và các hoocmon sinh dục. Mào to, khung xương to và chân cao là những đặc điểm hình thái quan trọng giúp gà tản nhiệt tốt hơn trong điều kiện nhiệt độ môi trường cao.
Aberra và Tegene (2011) cũng chỉ ra rằng 55,0% quần thể gà có mào đơn và mào hoa hồng chiếm 28,5%, mào nụ chiếm 15,2%; tích gà có 46,4% là màu đỏ, 34,2% là màu trắng, màu trắng chiếm 19,4%. Màu da vàng của gà nhờ các sắc tố carotinoid trong lớp biểu bì thu dược thông qua chế độ ăn và nguồn gốc của thức ăn (Nesheim và cs. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các tính trạng ở gia cầm 1. Khái niệm về sinh trưởng Theo Ioan Hutu và cs (2020) cho biết sinh trưởng là quá trình tăng về khối lượng và kích thước của cơ thể của một cơ thể sống bao gồm tất cả các biến đổi từ giai đoạn phôi thai đến khi kết thúc sự sống.
Theo Bùi Hữu Đoàn (2011) Sinh trưởng là sự tổng hợp các chất thông qua quá trình đồng hoá và quá trình dị hoá của cơ thể. Quá trình sinh trưởng của vật nuôi chịu ảnh hưởng các yếu tố bên trong và yếu tố ngoại cảnh. Yếu tố bên trong phụ thuộc vào cơ sở di truyền của cá thể, chúng được thừa hưởng từ thế hệ trước truyền cho bao gồm kiểu gen, loại hình thần kinh và các hoocmon. Cũng theo Ioan Hutu và cs.(2020) các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng quan trọng đến sinh trưởng và phát triển của vật nuôi, các điều kiện ngoại cảnh có thể tác động cải tạo được các yếu tố di truyền, thúc đẩy tiềm năng di truyền của vật nuôi ; điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú, nhiệt độ và độ ẩm môi trường, chế độ chiếu sáng… 1.
Các giai đoạn sinh trưởng của gà Sinh trưởng là một đặc điểm chính của động vật nói chung và của gia cầm nói riêng. Sinh trưởng bị ảnh hưởng bởi kiểu gen và môi trường. Sinh trưởng ở gà được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn còn non và giai đoạn trưởng thành. Giai đoạn còn non: Ở giai đoạn này cơ thể sinh trưởng nhanh, chủ yếu là hình thành các cơ quan bộ phận của cơ thể do đó số lượng tế bào cũng tăng nhanh.
Chức năng sinh lý của một số cơ quan trong cơ thể chưa hoàn thiện, hoạt lực của một số men tiêu hóa còn hạn chế do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đồng hóa của gà ở giai đoạn này. Để có được tốc độ sinh trưởng như mong muốn cần bổ sung các thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, các axit amin thiết yếu vào trong khẩu phần ăn của gà. (Alexandre Gomes Rocha và cs., 2022) 7 Giai đoạn trưởng thành: Đến giai đoạn trưởng thành tốc độ sinh trưởng của gà giảm do lúc này các cơ quan trong cơ thể đã hoàn thiện về chức năng, quá trình phát dục diễn ra mạnh mẽ. Nhu cầu dinh dưỡng ở giai đoạn này giảm hơn so với giai đoạn trước.
Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng + Sinh trưởng tích lũy Sinh trưởng tích lũy hay khối lượng được hiểu là khối lượng, kích thước của vật nuôi tại các thời điểm nhất định. Đơn vị tính được tính bằng g/con hoặc kg/con. Đồ thị biểu diễn sinh trưởng tích lũy là một đường cong có hướng đi lên. (Trần Thanh Vân và cs, 2015), (Bùi Hữu Đoàn và cs (2011) + Sinh trưởng tuyệt đối Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trong một đơn vị thời gian (TCVN 2.
Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày. Đồ thị biểu diễn sinh trưởng tuyệt đối có hành parapol ngược. (Bùi Hữu Đoàn và cs (2011) + Sinh trưởng tương đối Sinh trưởng tương đối được tính bằng tỉ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng (thể tích, kích thước) trong một thời gian nhất định (TCVN 2. Sinh trưởng tương đối được biểu diễn bằng đồ thị có xu hướng đi xuống (Bùi Hữu Đoàn và cs (2011) Kamporn.
K và cs (2022) nghiên cứu trên gà Arbor Acress, Ross 308 và Cobb 500 cho biết đồ thị sinh trưởng tích lũy của cả 3 giống đều tuân theo quy luật chung của gia cầm. Đường biểu diễn sinh trưởng của các giống khác nhau là khác nhau và trong cùng một giống cũng có sự khác nhau giữa dòng trống và dòng mái. Sinh trưởng tuyệt đối của cả 3 giống gà chuyên thịt này đạt cao nhất lúc 6 tuần tuổi ở cả hai tính biệt, gà trống có khả năng sinh trưởng nhanh hơn gà mái. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng Yếu tố bên trong - Ảnh hưởng của giống (kiểu gen) Kiểu gen ảnh hưởng đến sinh trưởng của vật nuôi do liên quan đến các tính trạng số lượng, các gen qui định khả năng kháng bệnh và các gen liên quan đến quá trình chuyển hoá trao đổi chất (Ioan Hutu và cs 2020).
Theo Reta (2009) thì tính trạng quy định về số lượng của gà có ảnh hưởng đến sinh trưởng và hiệu quả trong chăn nuôi, các giống gà khác nhau có kích thước và khối lượng cơ thể lúc trưởng thành khác nhau. Một số giống gà của Việt Nam có khối lượng và tầm vóc lớn: gà Mía (2241g – FAO, 2010), gà Đông Tảo (khối lượng lúc 24 tuần tuổi đối với con trống là 2864 g đối với gà mái là 2456,17g - Lê Thị Thắm và cs, 2016)….Ngược lại một số giống gà có kích thước và tầm vóc nhỏ : gà Ri (1263g), gà Ác (768g), gà H’Mông (1172g) (FAO, 2010). Aberra và Tegene (2011) chỉ ra rằng khối lượng cơ thể của một số giống gà bản địa của Ethiopia cũng khác nhau như giống gà cổ trụi có khối lượng trung bình là 1,7kg; giống gà Kei (1,5kg); Gebsima (1,95kg) và Wosera (1,46kg). - Ảnh hưởng của các hoocmon Các hoocmon tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến ức, tuyến sinh dục đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, sự hoạt động nhịp nhàng của các tuyến nội tiết giúp cơ thể sinh trưởng và phát triển bình thường (Ioan Hutu và cs,2020).
Các tuyến sinh dục tiết ra các hoocmon sinh dục, ở con mái (cái) có sự hoạt động của hoocmon estrogen ức chế sự phát triển của xương dài, thúc đẩy quá trình phát triển của sụn, do đó con mái (cái) có bộ xương nhỏ hơn con trống (đực) điều ảnh có ảnh hưởng đến sinh trưởng và khối lượng cơ thể của chúng. Tuyến giáp có các hoocmon quan trọng trong quá trình sinh trưởng bởi chúng là những hoocmon trực tiếp tham gia vào quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể, mặt khác còn tham gia vào sự hình thành các hoocmon sinh dục ở vật nuôi. Tuyến ức là một tuyến chỉ tồn tại khi động vật còn non, đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của các tuyến sinh dục. - Ảnh hưởng của hệ thống thần kinh Hệ thống thần kinh ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng thông qua kiều khiển các hoạt động của cơ thể, điểu khiển quá trình trao đổi chất.
Một nghiên cứu chỉ ra rằng, đối với cá thể bị tổn thương cột sống trong giai đoạn non thì sự tăng trưởng sẽ bị giảm hoặc đình trệ (Ioan Hutu và cs,2020). Yếu tố bên ngoài - Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng Trong giai đoạn phôi trứng, dinh dưỡng của gia cầm lấy từ lòng đỏ và lòng trắng, do đó nguồn dinh dưỡng giai đoạn phôi của gia cầm cũng hạn chế. Giai đoạn sau khi nở, cơ thể gia cầm có sự sinh trưởng bù đắp (Vander Klein và cs, 2017). Vì vậy, chất lượng thức ăn giai đoạn đầu ảnh hưởng quan trọng đến khả năng chuyển hoá thức ăn của gia cầm.
Theo đó, sự cân đối về khẩu phần ăn (năng lương, protein, lipit, xơ, các chất khoáng và vitamin) phải phù hợp với yêu cầu của từng đối tượng vật nuôi trong mỗi giai đoạn phát triển. Protein có trong khẩu phần ăn ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển đặc biệt là các axit amin thiết thiếu đối với gia cầm là methionine, cystine, lysine.