Đặt vấn đề Ở nƣớc ta lai tạo giống gia cầm trong những năm qua nhiều tổ hợp lai đã đƣợc tạo ra và đóng góp tích cực cho sản xuất nhƣ Ri x Lƣơng Phƣợng, Ri x Kabir, Mía x Lƣơng Phƣợng, Đông Tảo x Lƣơng Phƣợng, Mía x Kabir, Đông Tảo x Kabir, Lƣơng Phƣợng x Sasso.Các tổ hợp lao sức chống chịu bệnh tật tốt, chất lƣợng thịt thơm ngon, phù hợp với thị hiếu của ngƣời tiêu dùng nhƣng còn hạn chế về khả năng sinh trƣởng, khối lƣợng cơ thể gà thƣơng phẩm đạt thấp. Trƣớc tình hình đó, giai đoạn 2006 - 2010, từ các nguồn nguyên liệu di truyền là các giống gà Lƣơng Phƣợng, Sasso, trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phƣơng đã chọn tạo đƣợc 3 dòng gà lông màu hƣớng thịt TP1, TP2, TP4 có năng suất chất lƣợng cao: dòng trống TP4: có khối lƣợng lúc 8 tuần tuổi đạt 1958,78g/con đối với gà trống và 1580,97g/con đối với gà mái. Hai dòng mái TP1, TP2: có năng suất trứng/mái/68 tuần tuổi dòng TP1 đạt 181,74 quả; dòng TP2 đạt 177,79. Để có cơ sở khoa học và thực tiễn đánh giá các tổ hợp lai có năng suất và chất lƣợng thịt cao hơn, màu lông phù hợp với thị hiếu của ngƣời tiêu dùng, đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của xã hội về số lƣợng và chất lƣợng sản phẩm thịt gia cầm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng cho thịt của tổ hợp lai gà TP412 và TP421 nuôi tại Trạm nghiên cứu chăn nuôi gà Phổ Yên – Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài Mục tiêu tổng quát Cung cấp thông tin về khả năng sản xuất thịt của gà TP412 và TP421 để các nhà khoa học và ngƣời chăn nuôi có định hƣớng sử dụng chúng trong tƣơng lai. Mục tiêu cụ thể Đánh giá khả năng sinh trƣởng, khả năng cho thịt và ƣu thế lai của gà TP412. Đánh giá khả năng sinh trƣởng, khả năng cho thịt và ƣu thế lai của gà TP421. Từ kết quả đạt đƣợc góp phần hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà TP thƣơng phẩm ở Việt Nam.
Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa khoa học - Có cơ sở khoa học để làm sáng tỏ hiệu quả của việc sử dụng các tổ hợp lai có năng suất chất lƣợng thịt cao. - Có thể dùng kết quả đề tài này làm tài liệu cho những nghiên cứu khác. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá đƣợc khả năng cho thịt của 2 tổ hợp lai đối với hiệu quả kinh tế, năng suất chăn nuôi. - Có cơ sở khoa học để tƣ vấn lựa chọn gà lai phù hợp với chăn nuôi trong nƣớc để nâng cao năng suất và phát triển nông nghiệp bền vững.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở của lai tạo giống Căn cứ vào mục đích của lại tạo, ngƣời ta thƣờng áp dụng những phƣơng pháp lai tạo khác nhau nhƣ lai kinh tế, lai chuân chuyển, lai cải tiến (lai pha máu), lai cải tạo, lai phối hợp (lai tạo thành). Lai kinh tế là phƣơng pháp phổ biến nhất (Trần Đình Miên và cs, 1992) [13].
Cơ sở khoa học của việc lai kinh tế Lai kinh tế là lai giữa hai dòng khác nhau cùng giống, khác giống hoặc thuộc hai giống khác loài v. Con lai này không để làm giống, mà chỉ để lấy sản phẩm nhƣ thịt, trứng (chủ yếu lấy thịt vì sinh trƣởng tăng nhanh). Lai kinh tế còn đƣợc gọi là lai công nghiệp vì chỉ dùng F1 làm sản phẩm, nên sản phẩm có thể sản xuất nhanh hàng loạt, có chất lƣợng, lại quay vòng ngắn (Trần Đình Miên và cs, 1995) [14]. Năng suất vật nuôi phụ thuộc vào hai yếu tố, đó là bản chất di truyền và ngoại cảnh.
Do vậy trong chăn nuôi có hai hƣớng chủ yếu để nâng cao năng suất vật nuôi là cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi và cải tiến phƣơng pháp chăn nuôi. Trong công tác giống kể từ những vật nuôi đầu tiên đƣợc tạo ra từ cuối thế kỷ thứ XVIII, các giống mới thƣờng cũng đƣợc hình thành qua con đƣờng lai tạo sau đó mới đƣợc chọn lọc củng cố, ổn định tính trạng trở thành các dòng thuần. Những giống gốc ban đầu ít nhiều có pha máu của nhiều giống khác nhau. Cho đến nay việc tạo ra sản phẩm phần lớn cũng đều đƣợc thông qua lai tạo và việc lai tạo cũng đã có ảnh hƣởng tốt đến sản lƣợng và chất lƣợng sản phẩm.
Các giống, dòng càng thuần bao nhiêu thì con lai càng có ƣu thế lai cao bấy nhiêu (Trần Đình Miên và cs, 1995) [14]. c 4 Trong quá trình nghiên cứu di truyền, nguyên tắc hoàn toàn mới đƣợc Mendel đƣa vào để nghiên cứu, đó là phƣơng pháp lai, liên quan đến việc nghiên cứu này ông đã phát hiện và hình thành nên những quy luật cơ bản của di truyền. Muốn lai kinh tế hiệu quả phải chọn lọc tốt các dòng thuần, trong đó các cá thể dị hợp tử sẽ giảm đi và các cá thể đồng hợp tử sẽ tăng lên (Nguyễn Ân và cs, 1983) [2]. Trong đó bao gồm các dòng, mỗi dòng có đặc điểm chung của giống, nhƣng lại có đặc điểm di truyền riêng biệt.
Sự khác biệt mỗi dòng về kiểu gen chính là yếu tố quyết định sẽ làm xuất hiện ƣu thế lai. Ngƣời ta cho lai các dòng gà khác biệt về kiểu gen nhƣng lại có khả năng kết hợp đƣợc trong cùng một cơ thể sinh vật. Vì vậy phải chọn lọc các dòng gà trong các giống hoặc các dòng trong cùng một giống có khả năng kết hợp. Gia cầm lai không những chỉ thể hiện đƣợc chất lƣợng tổ hợp của những dòng thuần mà còn đạt đƣợc hiệu quả của ƣu thế lai 5 - 20%.
Có thể nói đây là sự ƣu đãi của thiên nhiên mà con ngƣời có thể sử dụng tốt, nếu nắm đƣợc quy luật của phƣơng pháp này và biết cách tổ chức sản xuất, sử dụng các gia cầm lai giữa các dòng là một trong những vấn đề quan trọng nhất (Hoàng Kim Loan, 1973) [8]. Trong những năm gần đây, ngành gia cầm chăn nuôi trên thế giới đang có những thay đổi cơ bản, những thay đổi này liên quan đến việc áp dụng phƣơng pháp sản xuất ra sản phẩm. Bằng cách phối hợp tốt những dòng đã đƣợc quy định và thông qua phƣơng pháp lai, sẽ đạt đƣợc hiệu quả ƣu thế lai ở thế hệ sau. Trong chăn nuôi gia cầm, khi lai kinh tế có thể lai đơn hoặc lai kép.
Lai đơn: Là phƣơng pháp lai kinh tế để sử dụng ƣu thế lai. Lai đơn thƣờng đƣợc dùng khi lai giữa giống địa phƣơng với giống nhập nội cao sản. Phƣơng pháp này phổ biến và đƣợc dùng nhiều trong sản xuất gà kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng. Để tận dụng khả năng dễ nuôi, sức chống chịu cao c 5 của gà địa phƣơng và khả năng lớn nhanh, sức đẻ cao, ấp nở tốt, khối lƣợng trứng cao của gà nhập nội: gà Rhode Island Red, gà Leghorn đƣợc lai với gà Ri (Tạ An Bình, 1973) [3].
Theo Bùi Quang Tiến và cs, (1985) [24] gà Rhoderi là con lai giữa gà Rhode Island Red với gà Ri cho khối lƣợng cơ thể, sản lƣợng trứng, khối lƣợng trứng cao hơn gà Ri. Thành công này đã chứng minh hiệu quả của phƣơng pháp lai đơn. Lai kép: là phƣơng pháp lai phổ biến để tạo ra gà thƣơng phẩm và đƣợc sử dụng nhiều trong chăn nuôi gà công nghiệp, phƣơng pháp này ngày càng đƣợc áp dụng nhiều trong công việc tạo ra gà thƣơng phẩm phù hợp với phƣơng thức nuôi tập trung hoặc bán chăn thả. Mỗi xí nghiệp sản xuất giống đều có nhiều dòng khác nhau và khi lai giữa các dòng riêng biệt sẽ tạo ra những con lai thƣơng phẩm năng suất cao, thí dụ gà hƣớng trứng có gà lai 4 dòng nhƣ Goldline 54, ISA Brown, Hy- line; gà hƣớng thịt có BE 88, AA, Cobb 500, Ross 308,.Ngƣời ta có thể phân biệt trống mái từ 1 ngày tuổi thông qua màu lông và tốc độ mọc lông cánh nhƣ gà Kabir, Goldline,.
Hiện nay, nghiên cứu và sử dụng ƣu thế lai trong sản xuất thực sự là đòn bẩy để nâng cao năng suất. Sự biểu hiện ƣu thế lai rất đa dạng, phụ thuộc vào bản chất di truyền từng cặp lai và điều kiện môi trƣờng. Muốn sử dụng tốt ƣu thế lai cần phải có những thử nghiệm nghiêm túc trong điều kiện cụ thể, đối với từng cặp lai cụ thể. Cơ sở khoa học của việc lai tạo giống trong chăn nuôi Lai tạo là một trong hai biện pháp nhân giống làm tăng khả năng sản xuất của vật nuôi.
Để nâng cao năng suất và chất lƣợng của các tính trạng, sau một giai đoạn chọn lọc nhất định, tiến bộ di truyền sẽ giảm xuống bởi mức đồng hợp tử tăng thì lai tạo là con đƣờng duy nhất vì nó chính là chìa khóa quyết định trong việc khai thác triệt để ƣu thế lai của các tính trạng nhất là các tính trạng về số lƣợng. c 6 *Khái niệm về ƣu thế lai Ƣu thế lai là một hiện tƣợng sinh học, biểu hiện sự phát triển mạnh mẽ của con lai đƣợc tạo thành khi lai giữa các giống, các dòng. Bản chất di truyền của ƣu thế lai là trạng thái dị hợp tử ở con lai. Mặt khác, ƣu thế lai biểu thị theo từng tính trạng, có khi chỉ một vài tính trạng phát triển mạnh, còn các tính trạng khác vẫn giữ nguyên hoặc có trƣờng hợp giảm đi.
Cũng có thể ƣu thế lai là hiện tƣợng giá trị trung bình của mỗi tính trạng ở đời con tốt hơn hẳn so với trung bình của bố mẹ về một số chỉ tiêu đặc trƣng cho sức sản xuất mà ta mong muốn.F, (1974) [7], ƣu thế lai là một hiện tƣợng sinh học, chỉ tăng sức sống của đời con so với bố mẹ khi có sự giao phối giữa các cá thể không thân thuộc. Ƣu thế lai không chỉ biểu thị có sức chịu đựng môi trƣờng không thuận lợi cao, nó bao gồm cả sự giảm tử vong, tăng tốc độ sinh trƣởng, tăng sức sản xuất và tăng khả năng sinh sản. Vì vây, ngƣời ta xem hiện tƣợng ƣu thế lai nhƣ mội sinh lực đặc biệt có lợi của vi sinh vật học. Các tác giả Trần Đình Miên và cs, (1995) [14], cho rằng ƣu thế lai là hiện tƣợng sinh học rất quý, biểu hiện sự phát triển mạnh mẽ của những cơ thể đƣợc tạp ra từ con lai giữa các giống không cùng huyết thống.
Là sự phát triển toàn bộ khối lƣợng cơ thể con vật, sự gia tăng cƣờng độ trong quá trình trao đổi chất, sự tăng lên của các tính trạng sản xuất.