ĐẶT VẤN ĐỀ Tim bẩm sinh (TBS) là một trong những khiếm khuyết bẩm sinh thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh. Gần 1% trẻ sinh ra có tật TBS, trong đó khoảng 1/4 trường hợp TBS này có tình trạng nặng cần được thông tim can thiệp hay phẫu thuật trong một năm đầu đời. Hầu hết những tật TBS nặng phụ thuộc sự tồn tại ống động mạch (OĐM) [38],[51],[73]. Những ca TBS nặng có thể không có biểu hiện lâm sàng ngay sau khi sinh cho đến khi OĐM bị co thắt.
Trước đây, do hạn chế về phương tiện chẩn đoán nên chưa phát hiện và điều trị kịp thời các tật TBS PTOĐM khi trẻ vừa mới sinh ra. Vì vậy, trẻ sẽ tử vong khi OĐM đóng mà chưa được chẩn đoán. Đôi khi bệnh có thể bị chẩn đoán nhầm với một số bệnh khác như sốc nhiễm trùng, bệnh chuyển hóa, suy hô hấp nặng, cao áp phổi nặng [2],[42]. Ngày nay, dù cho siêu âm sản khoa, siêu âm tim thai cũng như chẩn đoán và điều trị sau sinh đã có nhiều tiến bộ, việc xác định chính xác và quản lý thích hợp trẻ sơ sinh bị TBS vẫn là mối quan tâm lớn của các bác sĩ nhi khoa.
Việc xác định sớm chẩn đoán từ thời kỳ bào thai giúp các thai phụ được chuẩn bị tâm lý, có kế hoạch sinh em bé ở những trung tâm Sản - Nhi lớn hoặc gần các Bệnh viện Nhi để được chẩn đoán và xử trí sớm những trường hợp TBS nặng sau sinh. Việc sàng lọc và khám lâm sàng phát hiện dị tật TBS nặng như chuyển vị đại động mạch (CVĐĐM), hẹp hay không lỗ van động mạch phổi (KLVĐMP), hội chứng thiểu sản tim trái (HC TSTT) … trước khi bệnh tiến triển nặng góp phần làm giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong [45],[58],[74]. TBS PTOĐM có thể phân thành 2 nhóm: tuần hoàn phổi phụ thuộc OĐM (THP PTOĐM) và tuần hoàn hệ thống phụ thuộc OĐM (THHT PTOĐM) [30]. Mục tiêu điều trị ở giai đoạn sơ sinh là ổn định huyết động và cải thiện tình trạng tím hay rối loạn huyết động do OĐM đóng.
Sinh lý bệnh và chiến lược điều trị ở mỗi nhóm khác nhau phụ thuộc cấu trúc giải phẫu của từng bệnh. Ở Bệnh viện Nhi Đồng 2, chương trình siêu âm chẩn đoán và tư vấn tiền sản tật TBS với các bệnh viện sản của thành phố được thực hiện từ năm 2012 nhưng tỷ. lệ phát hiện tật TBS tiền sản, đặc biệt nhóm TBS PTOĐM chưa được báo cáo. Nhóm THP PTOĐM đã có một vài nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và can thiệp thông tim điều trị, nhưng nhóm THHT PTOĐM thì chỉ có một nghiên cứu.
Bên cạnh đó, việc sử dụng Prostaglandine để duy trì OĐM với liều và tác dụng phụ như thế nào. Ngoài ra, trên nhóm TBS PTOĐM, các can thiệp thông tim cấp cứu ở giai đoạn sơ sinh chưa được báo cáo nhiều. Sự phát triển của phẫu thuật tim hở trong điều trị trong khoảng hơn năm năm gần đây nên nhiều tật TBS được điều trị thành công, nhưng những số liệu phẫu thuật ở nhóm sơ sinh còn ít. Do vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá các đặc điểm giải phẫu, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của tật tim bẩm sinh phụ thuộc OĐM ở trẻ sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 2 trong 9 tháng, từ 01 tháng 5 năm 2019 đến 29 tháng 2 năm 2020.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Đặc điểm giải phẫu, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị tật TBS PTOĐM ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 như thế nào?. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Trên những trẻ sơ sinh bị tật TBS PTOĐM ở Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 05/2019 đến 02/2020: Xác định tỷ lệ hay trung bình các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng, Xác định tỷ lệ các đặc điểm giải phẫu, Xác định tỷ lệ hay trung bình các can thiệp điều trị và kết quả điều trị ban đầu. Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sinh lý tuần hoàn bào thai đến sau sinh Trong tuần hoàn bào thai, OĐM, lỗ bầu dục, và ống tĩnh mạch giữ vai trò quan trọng.
OĐM là một đoạn mạch máu nối liền động mạch phổi (ĐMP) và động mạch chủ (ĐMC). Trong thai kỳ, phần lớn máu từ thất trái được bơm vào ĐMC lên cung cấp máu chủ yếu cho nửa trên của cơ thể và não bộ, lưu lượng máu còn lại của thất trái đưa máu oxy hóa từ nhau thai đi tắt từ tuần hoàn phổi vào tuần hoàn hệ thống để cấp máu cho nửa dưới cơ thể thông qua OĐM [61] Hình 1.1 - Sinh lý tuần hoàn bào thai và sau sinh [7] “Nguồn: Vũ Thị Thùy Trang, 2017” Trong giai đoạn chuyển tiếp sau sinh, động tác khóc và nhịp thở đầu tiên giúp phổi nở ra và tăng phân áp Oxy máu động mạch (PaO2). Đồng thời, kháng lực thấp của tuần hoàn nhau thai được loại bỏ dẫn đến gia tăng kháng lực mạch máu hệ thống. Quá trình đóng OĐM sau sinh bắt đầu từ đầu ĐMP hướng về đầu ĐMC.
Quá trình đóng hoàn toàn OĐM xảy ra qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu, nồng độ các. Prostaglandin giảm và PaO2 tăng làm co thắt cơ trơn OĐM giúp OĐM đóng về mặt chức năng (xảy ra sau sinh 10 – 15 giờ). Giai đoạn sau, OĐM đóng về mặt giải phẫu do sự thiếu máu và hoại tử của gờ nội mô.
Sự đóng về mặt giải phẫu hoàn tất sau 2 – 3 tuần tuổi. Trong giai đoạn đóng chức năng, OĐM có thể mở trở lại một cách tự phát trong trường hợp trẻ non tháng hay do điều trị với Prostaglandin. Đại cƣơng tim bẩm sinh phụ thuộc ống động mạch 1. Tần suất tim bẩm sinh phụ thuộc ống động mạch ở trẻ sơ sinh Tật TBS là một trong những dị tật bẩm sinh thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh.
Tần suất TBS sơ sinh là khoảng 1%, trong đó khoảng một phần tư những khiếm khuyết này có tình trạng nặng gọi là TBS nặng. TBS nặng là tật TBS cần can thiệp hay phẫu thuật trong vòng một năm đầu đời [51]. Hầu hết những tật TBS nặng này cần OĐM để tồn tại và có thể không có những biểu hiện lâm sàng ngay sau sinh cho đến khi OĐM co thắt [30],[51].1 – Tật TBS và tần suất các loại TBS phụ thuộc OĐM/1000 trẻ [38] Loại TBS phụ thuộc OĐM Tần suất/1000 trẻ KLVĐMP/VLTNV 0,132 Hẹp van ĐMP 0,729 Không lỗ van 3 lá 0,079 CVĐĐM 0,315 Tứ chứng Fallot 0,421 HC TSTT 0,266 Hẹp eo ĐMC 0,409 Bất thường Ebstein van 3 lá 0,114 Hẹp van ĐMC 0,401 1. Ngày tuổi đƣợc chẩn đoán Các tật TBS PTOĐM thường có biểu hiện sớm và phát hiện trong vòng tháng đầu tiên.
Hẹp van ĐMC nặng thường có triệu chứng lâm sàng xảy ra sớm ngay sau sinh. Tật không lỗ van động mạch phổi/vách liên thất nguyên vẹn (KLVĐMP/VLTNV) có biểu hiện tím sớm và nặng sau sinh. Còn tật đứt đoạn cung. ĐMC và HC TSTT thường có “khoảng trăng mật sau sinh”, với việc đứa trẻ có thể được xuất viện vài ngày sau sinh với tình trạng khoẻ mạnh, nhưng trong 1 – 2 tuần đầu bé trở nên bú kém, thở nhanh, mạch nhẹ, có thể tím tái hoặc ngưng tim [48].
Cottril [29], gần 50% các trường hợp TBS nặng được phát hiện ngay trong tuần lễ đầu tiên sau sinh. Nghiên cứu của Kovacikova L và cs [43] ở 117 bệnh nhân mắc TBS THHT PTOĐM tại Slovakia (1/1997 – 12/2004), tuổi trung vị chẩn đoán xác định là 2 ngày tuổi (0 – 22 ngày tuổi). Các nghiên cứu khác ở Việt Nam cũng cho thấy đa số thai kỳ trong nhóm này được chẩn đoán vào khoảng 1 tháng đầu sau sinh. Tác giả Lê Minh Hiếu [2] nghiên cứu trên 48 trẻ TBS THHT PTOĐM, ghi nhận tuổi trung vị được chẩn đoán là 6 ngày tuổi, chủ yếu trong 3 tuần đầu sau sinh (gần 80%).
Tương tự, trong nghiên cứu trên 55 trẻ có tật TBS THP PTOĐM, tác giả Nguyễn Minh Trí Việt [9] cũng ghi nhận 96% trường hợp phát hiện ở tuổi sơ sinh, trung bình 3.16 (0 – 45) ngày sau sinh. Chẩn đoán tiền sản Sự phát triển của chẩn đoán tiền sản (CĐTS) giúp tỷ lệ TBS được chẩn đoán trước sinh ngày càng nhiều và giảm được tỷ lệ tử vong [8],[20]. CĐTS tật TBS quan trọng, giúp có chiến lược theo dõi và điều trị thích hợp. Hầu hết những trường hợp bị TBS không kèm theo yếu tố nguy cơ mẹ và thai, nhưng thường được nghi ngờ ở thời điểm siêu âm sản khoa sàng lọc.
Với những thai kỳ có yếu tố nguy cơ tật TBS, tùy đặc điểm của từng nước và khả năng tiếp cận chẩn đoán của từng vùng miền, có thể khảo sát chi tiết bởi bác sĩ sản ở cấp độ siêu âm sản khoa sàng lọc. Sau đó, khi nghi ngờ tật TBS cao sẽ được siêu âm tim thai chuyên sâu bởi bác sĩ chuyên khoa [20]. Với những thai kỳ không có yếu tố nguy cơ, tất cả vẫn cần được siêu âm hình thái ở 3 tháng giữa, trong có có sàng lọc dị tật TBS. Tuy nhiên, việc phát hiện TBS thai nhi phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có thực hành tầm soát dị tật bẩm sinh tim theo hướng dẫn của AIUM (Hiệp hội siêu âm Hoa Kỳ), AHA (Hiệp hội tim mạch Hoa Kì) và kinh nghiệm của bác sĩ siêu âm cũng như tư thế thai [20],[67].
Theo Hiệp hội siêu âm tim thai và Hiệp hội tim mạch nhi và phẫu thuật tim mạch của Nhật, chẩn đoán tật TBS thai nhi ở hai mức độ [64]. (1) Mức độ 1: siêu âm sản khoa sàng lọc chẩn đoán tật TBS, thường ở thời điểm tam cá nguyệt 2 của thai kỳ, cùng lúc siêu âm hình thái thai được thực hiện bởi bác sĩ sản khoa. Mức độ 1 được khuyến cáo tất cả các thai kỳ, tuy nhiên thai kỳ có nguy cơ nên được siêu âm chi tiết hơn để tăng tần suất phát hiện tật TBS; (2) Mức độ 2: siêu âm tim thai chuyên sâu chỉ định trong những trường hợp có yếu tố nguy cơ, chỉ định của bác sĩ sản khoa hay bất thường tim mạch thai nhi khi ngờ trên siêu âm sàng lọc.2 - Yếu tố nguy cơ của tật TBS [20] Yếu tố nguy cơ của mẹ Yếu tố nguy cơ của con Kháng thể tự miễn Ba, mẹ hoặc anh chi em ruột có tật TBS Bất thường di truyền có tính gia đình Rối loạn nhịp tim thai Bệnh lý chuyển hóa Bất thường NST thai Tiếp xúc với thuốc và độc chất Siêu âm sản khoa sàng lọc nghi TBS Mẹ mắc bệnh, đặc biệt trong 3 tháng đầu Dị tật khác ngoài tim thai kỳ Phù thai Thụ tinh ống nghiệm Tăng độ mờ da gáy Song thai Bảng 1.