Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN XUÔI TÂY NGUYÊN SAU 1986 VÀ NỮ NHÀ VĂN ÊĐÊ - NIÊ THANH MAI 1. Vài nét khái quát về văn xuôi Tây Nguyên sau 1986 Tây Nguyên là nơi có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước, có hành lang tự nhiên với Nam Lào, Đông bắc Campuchia và hệ thống giao thông kết nối với các tỉnh duyên hải miền Trung và Đông Nam bộ. Tây Nguyên bao gồm lãnh thổ của năm tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, nằm gọn trên vùng núi non và cao nguyên phía Tây Trung bộ. Ở đây tập trung trên dưới hai mươi tộc người như Ba Na, Xê Đăng, Mnông, Ê Đê, Mạ, Stiêng, Hrê, Gia-rai, Giẻ - triêng,… Các dân tộc lâu đời ở đây thuộc về hai nhóm ngôn ngữ chủ yếu: nhóm Môn - Khơ me và nhóm Mã Lai - Đa Đảo.
“Văn hóa Tây Nguyên” vẫn là cụm từ quen gọi bao gồm văn hóa của các dân tộc thuộc hai nhóm này. Vào các giai đoạn lịch sử khác nhau, Tây Nguyên lại được đón thêm các nhóm tộc người từ các vùng miền khác của tổ quốc đến định cư như người Việt, các dân tộc thiểu số từ miền Trung như Bru - Vân Kiều và đặc biệt các dân tộc từ miền Bắc đến như Tày, Thái, Nùng, Mường, H’Mông, Dao,… Tất cả đã làm cho Tây Nguyên trở thành một vùng có thành phần tộc người phức tạp và đông đảo nhất cả nước hiện nay. Các tộc người cư trú đan xen với nhau trong phạm vi địa chính và kết nối phạm vi gia đình, dòng tộc khiến xu thế giao thoa ảnh hưởng văn hóa giữa các tộc người trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Mảnh đất Tây Nguyên rộng lớn, tươi đẹp và hùng vĩ: Từ cực Bắc là cụm núi Atouat với đỉnh Ngok Linh cao 2598m của người Sê Đăng giỏi rèn giáo mác đến cực Nam là dãy Chư Yang Sin cao 2402m (đỉnh cao nguyên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Lang Biang) đậm chất văn hóa K’ho, xứ sở của điệu chiêng Arap Jrai đắm đuối nhịp vòng xoang, điệu Arei Êđê, qua những cánh đồng rập rờn xanh sóng cỏ của đất Mnông, qua chân núi Hà Giăng của người Chăm Hroaih đấu trống… Nơi đâu cũng in đậm dấu ấn bản sắc dân tộc.
Tây Nguyên ngày nay là kết quả của bao thế hệ, đã trải qua nhiều cuộc di cư và có cả những xung đột bộ tộc để có được một Tây Nguyên với những Buôn, Bon, Kon, Plei mang trong mình bao lớp trầm tích văn hóa. Cuộc sống, kinh tế của đồng bào Tây Nguyên trước đây phụ thuộc chặt chẽ vào nương rẫy, gần gũi và lệ thuộc thiên nhiên nên họ rất coi trọng mối quan hệ cộng đồng. Đời sống văn hóa, tín ngưỡng phong phú. Người Tây Nguyên có tài năng nghệ thuật, ưa thích ca hát nhảy múa… Tất cả những yếu tố ấy là mạch nguồn trọng yếu góp phần thai nghén và nuôi nấng những tác phẩm văn học Tây Nguyên có giá trị và đặc sắc.
Văn hóa Tây Nguyên xét đến cùng về bản chất là văn hóa của núi rừng, văn hóa thực vật; về trình độ phát triển là văn hóa dân gian truyền miệng thời kỳ tiền nhà nước, tiền giai cấp; về quy mô là văn hóa buôn làng nhưng sự kỳ vĩ của nơi đây biểu hiện ở văn hóa phi vật thể hơn là vật thể như: Sử thi, âm nhạc cồng chiêng, lễ hội của các dân tộc Tây Nguyên. Thông qua các biểu hiện đặc sắc ấy, người ta sẽ hiểu được những đặc điểm, bản sắc độc đáo, đặc thù của vùng văn hóa Tây Nguyên. Con người Tây Nguyên có trình độ tư duy hiện thực huyền ảo vì mọi thứ đều được con người quy về các hiện tượng tự nhiên và tôn sùng tự nhiên. Họ luôn quy về những thứ xung quanh mình (như động vật, thực vật) hay hiểu cách khách là họ luôn lấy thiên nhiên làm hệ quy chiếu cho con người.
Các hiện tượng tự nhiên ấy đều mang trong mình cái “hồn”, “thần” khiến cho mọi thứ bao quanh con người đều thuộc một thế giới vật chất có hồn, chứ không phải thế giới vật chất vô tri vô giác. Với quan niệm: Con người thực sự là một bộ phận của tự nhiên, bình đẳng và gắn bó với tự nhiên, đó là yếu tố vô LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cùng quan trọng tạo nên tính nhân bản sâu sắc của nền văn hóa Tây Nguyên. Ngôn ngữ của con người Tây Nguyên là ngôn ngữ giàu hình ảnh và vần điệu, đó là thứ ngôn ngữ nói vần, một hình thức trung gian giữa ngôn ngữ thường ngày và ngôn ngữ văn học. Đặc tính tư duy và hình thức ngôn ngữ đó của con người Tây Nguyên đã khoác lên văn hóa của họ những màu sắc, đường nét thật độc đáo.
Tây Nguyên được biết đến như là miền đất huyền thoại, là nơi cư trú của nhiều dân tộc thiểu số. Trong kho tàng văn hóa phong phú của đồng bào các dân tộc nơi đây, bên cạnh những giá trị lịch sử, văn hóa tinh thần vô giá thì Tây Nguyên còn là vùng đất có truyền thống, bề dày văn học dân gian với nhiều thể loại, trong đó tiêu biểu nhất là kho tàng sử thi với hàng trăm tác phẩm, được trình diễn trong sinh hoạt cộng đồng, là dạng sử thi sống, khiến Tây Nguyên được coi là vùng sử thi duy nhất ở nước ta và là vùng sử thi quý hiếm trên thế giới. Sử thi là tấm gương phản ánh một cách toàn diện đời sống của một dân tộc ở một thời kỳ đã qua, đồng thời nói lên khát vọng của dân tộc ấy về một cuộc sống hạnh phúc, thịnh vượng; ngợi ca tình yêu, lòng cao thượng, trí dũng con người trước thử thách của thiên nhiên và trong đấu tranh với cái ác… Sử thi Tây Nguyên là những áng anh hùng ca mà tùy theo ngôn ngữ mỗi dân tộc, được gọi với các tên gọi khác nhau như: Khan (Ê Đê), Hom (Ba Na), Hri (Gia Rai), Ot Mrong (Mnông)… Nền văn học dân gian Tây Nguyên phát triển vô cùng mạnh mẽ. Nhà văn Linh Nga Niê Kdam cũng từng khẳng định: văn học dân gian Tây Nguyên, đặc biệt là sử thi “phong phú về giai điệu, giàu có về nội dung, đồ sộ về khối lượng, độc đáo về hình thức trình diễn”.
Đây đích thực là một kho tàng văn học dân gian khổng lồ, một kho lịch sử - văn hóa vô giá trị, đạt đến đỉnh cao không kém bất cứ một dân tộc nào thậm chí ngang bằng văn học cổ phương Tây. Bên cạnh những tác phẩm sử thi riêng rẽ, độ dài vừa phải như Đăm San, Khinh Dú thì nay còn phát hiện thấy loại sử thi liên hoàn, gồm nhiều tác phẩm liên quan đến nhau về nhân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 vật, chủ thể, phong cách thể hiện như các sử thi Ốt Drông, Dông, Dăm Diông… Trên thực tế có lẽ số lượng còn nhiều hơn so với số lượng tác phẩm đã công bố và sưu tầm được. Đấy là minh chứng đầy đủ cho sức sáng tạo của con người Tây Nguyên, sức sống của một vùng sử thi và sự phát triển vượt bậc của văn học dân gian dân tộc thiểu số Việt Nam ở Tây Nguyên. Mặc dù văn học dân gian Tây Nguyên phát triển phong phú như vậy nhưng văn học hiện đại ở Tây Nguyên trước năm 1986 lại chưa thực sự có sự phát triển mạnh mẽ, chưa tương xứng với nền văn học truyền thống.
Trong giai đoạn này, văn học Tây Nguyên thiếu vắng những tên tuổi và những sáng tác của các nhà văn dù họ là chủ nhân của kho tàng văn học dân gian đồ sộ này. Văn học các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không chỉ ít tìm thấy bóng dáng của sự tiếp nối truyền thống một cách mạnh mẽ mà dường như còn chậm chân hơn so với những dân tộc khác ở khu vực miền núi phía Bắc. Nhà văn Linh Nga Niê Kdam và một số tác giả khác cho rằng có 6 nguyên nhân lý giải cho điều đó trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Trường Sơn - Tây Nguyên 1975-2010, như sau: Thứ nhất, trong thời kỳ thuộc Pháp, thanh thiếu niên Tây Nguyên theo học tại các trường tiểu học Pháp - Ê Đê, Pháp - Jrai, Pháp - K’Ho… mở tại Buôn Ma Thuật, Plei Ku, Đà Lạt…chỉ được học tiếng Pháp và tiếng dân tộc chứ không được học tiếng Việt. Thứ hai, sau năm 1975, môi trường diễn xướng các loại hình văn học truyền miệng độc đáo như trường ca, sử thi có một thời gian khá dài bị đứt gãy do bị đánh đồng cùng các lễ nghi, lễ hội truyền thống dân gian, với phong trào bài trừ mê tín dị đoan.
Thứ ba, việc tôn trọng và giáo dục văn học truyền thống bản địa của vùng dân tộc thiểu số không được coi trọng. Lực lượng thanh thiếu niên các dân tộc thiểu số, đặc biệt ở Tây Nguyên xa rời với kho tàng văn học truyền thống. Thứ tư, sự giao lưu văn hóa với các vùng miền được mở rộng một cách tự phát cùng với sự xâm nhập ồ ạt các luồng văn hóa khiến cho một bộ phận không nhỏ, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên, một cách vô thức, quay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 lưng lại với sinh hoạt văn hóa truyền thống của tộc người. Thứ năm, nhiều thập niên trước đây, các Hội văn học nghệ thuật (VHNT) chuyên ngành ở Trung ương lẫn Hội văn nghệ địa phương chưa quan tâm tích cực đến việc bồi dưỡng đào tạo đội ngũ tác giả trẻ người dân tộc thiểu số.
Việc bồi dưỡng lực lượng sáng tác người dân tộc thiểu số chỉ mới thực sự được quan tâm từ sau khi Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam ra đời năm 1986. Ngoài ra, đời sống kinh tế các vùng đồng bào dân tộc còn nhiều thiếu thốn, khiến ngay cả những trí thức, học sinh, sinh viên người dân tộc rất có năng khiếu cũng không muốn chọn sự gắn bó với văn chương làm con đường chính đi suốt cuộc đời mình. Như vậy, theo cách lý giải trên ta phần nào hiểu được căn nguyên vì sao đội ngũ sáng tác văn học khu vực các dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên lại phát triển chậm và số lượng ít ỏi như vậy. Văn học Tây Nguyên nói chung trước năm 1975 gần như không có gì nhiều để đề cập tới.
Đội ngũ sáng tác viết về đề tài DTTS Tây Nguyên chỉ có một vài cây bút.