Chương 1 có tiêu đề, Tư tưởng về cái phi lý qua các thời đại. Chương này dành để giới thuyết khái niệm “phi lý”. Tác giả giải thích và tiến hành so sánh chỗ giống nhau và khác nhau của khái niệm phi lý trong triết học và khái niệm phi lý trong văn học. Chương 2 có tiêu đề là Những bước tiến hóa của văn học phi lý.
Chương này gồm các mục: “Văn học phi lý – một phản ứng cuả thời đại lịch sử”; “Sự thống nhất của hai mặt đối lập: Kafka và Camus”; “Kịch phi lý - cơn kịch phát của văn học phi lý”. Chương 3 có tiêu đề là Những đóng góp của văn học phi lý cho lịch sử văn học nhân loại. Trong đó có 3 mục gồm “Đóng góp về nhận thức”; “Đóng góp về tư tưởng đạo lý - nhân văn”; “Đóng góp về thủ pháp nghệ thuật”. Chương 4 có tiêu đề Văn học phi lý - một sự khủng hoảng mang tính sáng tạo.
Gồm 2 mục: “Từ khủng hoảng xã hội đến khủng hoảng văn học”; và “Dư âm của văn học phi lý”. Qua 4 chương, tác giả đi đến kết luận: Văn học phi lí “là một loại hình có chung một đối tượng sáng tác, một quan điểm phi lý nằm trong một phong trào phản kháng chung của thế kỷ XX (…) Nó đề cập đến một chủ đề rất thời sự, rất cốt lõi và cũng rất nhức nhối của nhân loại: cái phi lí (…) Văn học phi lí đã có những cách tân sáng tạo đáng kể về mặt nghệ thuật. Nó đã góp phần làm thay đổi những quan niệm trì trệ của văn học truyền thống, đem lại những hình thái biểu đạt mới và một thứ ngôn ngữ nghệ thuật mới” [26, tr. 13 Trong bài viết Về khái niệm cái kỳ ảo và văn học kỳ ảo trong nghiên cứu văn học của tác giả Lê Nguyên Long, vấn đề yếu tố kỳ ảo, truyện ngắn kỳ ảo cũng được đề cập khá cụ thể.
Trên cơ sở quan niệm về “cái kỳ ảo” và “văn học kỳ ảo” của các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài, tác giả đã đưa ra ý kiến của mình về cái kỳ ảo. Theo Lê Nguyên Long, “cái kỳ ảo là cái không thể cắt nghĩa được bằng lí tính từ điểm nhìn của chúng ta tới tầm nhận thức hiện tại. Chính cái không cắt nghĩa được bằng lí tính ấy đã tạo nên một “sự đứt gãy trong chuỗi liên kết vũ trụ” (Roger Callois), gây ra tâm trạng hoang mang cho những người nào đối diện với nó. Tác giả khẳng định “cái kỳ ảo và văn học kỳ ảo rõ ràng đã mở rộng biên độ của hiện thực, bổ khuyết cho con người trong cái nhìn về hiện thực” [64; tr.
Cũng bàn về khái niệm “kỳ ảo”, một tác giả khác là Lê Nguyên Cẩn trong chuyên luận Cái kỳ ảo trong tác phẩm Balzac đã cố gắng làm rõ nội hàm khái niệm này bằng những lý giải cụ thể. Theo ông thì “cái kỳ ảo là một khái niệm thi pháp loại hình đồng thời là một phạm trù tư duy nghệ thuật. Nó là sản phẩm của trí tưởng tượng và được biểu hiện bằng các yếu tố thần linh, quái dị, ma quỷ, khác lạ, phi thường, siêu nhiên” [17, tr. Dẫn lại ý kiến của một số nhà nghiên cứu nước ngoài, Lê Nguyên Cẩn thống nhất với quan niệm cho rằng yếu tố kỳ ảo trong văn học có tác dụng “tạo nên sự đứt gãy trong chuỗi liên kết vũ trụ, tạo ra sự do dự, phân vân trong lòng độc giả.
Nó là quãng lặng, là sự ngắt mạch, là sự xâm lấn của cái siêu nhiên trong cuộc sống đời thường, là sự xâm lấn của cái phi lôgic trong một thế giới lôgic” [17, tr. Yếu tố kỳ ảo có mặt một cách phổ biến, thường xuyên, lâu dài trong văn học. Không chỉ xuất hiện trong văn học dân gian mà cả trong văn học viết, xuyên suốt qua các thời đại, các quá trình lịch sử văn học. Nó “tồn tại độc lập, không hoà tan vào các dạng thức khác nhau của trí tưởng tượng”.
Nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc có bài “Cái kỳ ảo và văn học huyễn ảo”, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 8 (2006). Đây là một bài viết khá công phu, đề cập đến nhiều vấn đề xung quanh cái gọi là “văn học huyễn ảo”. Bài viết gồm có 6 mục nhỏ: 1/. Cái kì ảo và văn học kì ảo: Những vướng mắc, nhầm lẫn; 2.
Khái niệm văn học huyễn ảo; 3/. Văn học huyễn ảo có tự bao giờ; 4/. Văn học huyễn ảo: thể loại hay khuynh hướng (phương pháp); 5/. Văn học huyễn ảo và vị trí của văn học kì ảo; 6/.
Nguyên nhân ra đời của cái huyễn ảo. Trên cơ sở những khái niệm chuyển dịch từ một số ngôn ngữ khác sang tiếng Việt hiện đang được sử dụng rộng rãi và những khái niệm nguyên gốc quen thuộc mà giới chuyên môn trên thế giới vẫn dùng, ông đề xuất khái niệm 14 “văn học huyễn ảo” nhằm để thay thế các cụm từ như văn học thần ma, gôtích, kinh dị, ma quỷ, siêu nhiên, kỳ ảo, huyền thoại… Tác giả viết: “Do không tìm được thuật ngữ tiếng Anh tương ứng, chúng tôi dùng khái niệm văn học huyễn ảo để dịch ngắn gọn cụm từ Mythical, fantastic, supernature, unnature, ghost, horros, ghothic, magical literature (văn học thần ma, gôtich, kinh dị, ma quỷ, phi thường, siêu nhiên, kỳ ảo, huyền thoại). Khái niệm của chúng tôi đưa ra với mục đích nhằm bao quát cả một lịch sử sáng tạo văn chương nơi xuất hiện sự đan cài của hai yếu tố thực (có thể kiểm nghiệm bằng lí trí) mà hàm lượng bao giờ cũng nghiêng hẳn sang phần ảo. Thế giới của văn học huyễn ảo là thế giới của trí tưởng tượng, nơi sự khác lạ, hoang đường, thần diệu… luôn ngự trị.
Có lúc nó giúp người đọc bình tâm, tự tại, có lúc nó khiến họ hoang mang, khiếp đảm và có lúc khiến họ hoài nghi, bối rối” [15, tr. Có thể thấy khái niệm “văn học huyễn ảo” của Lê Huy Bắc trong bài viết vừa nêu chứa nội hàm rất rộng. Và văn học huyễn ảo xuất hiện rất sớm, ngay từ khi con người biết sáng tạo ra văn chương. Cái huyễn ảo luôn gắn với văn học.
Tác giả viết: “Có thể nói, nếu xét ở diện rộng, thì tùy theo từng mức độ, cái huyễn ảo không thể thiếu trong bất kì lúc nào nhà văn đặt bút viết. Tuy nhiên, cái huyễn ảo đích thực sẽ là sản phẩm của hư cấu vượt ngưỡng hư cấu thông thường: hư cấu của hư cấu” [15, tr. Lê Huy Bắc dựa trên cách phân loại văn học theo quan niệm truyền thống (từ Aristote) để xếp Tự sự, Trữ tình, Kịch là “ba loại hình chính”, thuộc “văn học hư cấu”; và Tiểu thuyết, Truyện ngắn là các “thể loại” (genner) thuộc loại hình (kind) tự sự. Vì thế tác giả cho rằng: “không có cái gọi là thể loại văn học huyễn ảo và càng không có cái gọi là thể loại văn học kì ảo mà chỉ có các chủng loại (typys) huyễn ảo (hoặc hẹp hơn là kì ảo) như tiểu thuyết kì ảo, truyện ngắn kì ảo mà thôi” [15, tr.
Từ đấy, nhà nghiên cứu phân kì văn học huyễn ảo thành ba chặng phát triển, với đặc điểm và tên gọi riêng. Đó là: Từ Cổ đại đến thế kỷ XIII, đặc điểm nổi bật trong văn học là “cái huyễn tưởng” (the mythical), tên gọi là Thần thoại, cổ tích. Từ thế kỷ XV - XIX (cận - hiện đại) là “cái kì ảo” (the fantastic), tên gọi là “văn học kì ảo”. Từ XX đến nay (hiện đại - hậu hiện đại) là “cái huyền ảo” (the magical), tên gọi là “văn học huyền ảo”.
Cùng hướng nghiên cứu với các tác giả trên, nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào cũng có một số bài viết đi sâu vào việc tìm hiểu “cái kì ảo” trong văn học. Ở bài “Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam”, trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 8 (2006), tác giả đã trình bày một cách khái 15 quát về sự khác biệt của cái kỳ ảo trong lịch sử văn học qua một số truyện ngắn, tiểu thuyết tiêu biểu trong mối liên hệ với truyện “không kỳ ảo”. Theo nhà nghiên cứu thì “ở Việt Nam từ thế kỷ XVI tới thế kỷ XX, cái kỳ ảo vẫn tồn tại trong văn xuôi, song người ta thường bỏ qua khoảng thời gian từ thế kỷ XII đến cuối thế kỷ XIX có lẽ vì không có những tác phẩm đột xuất về chất hoặc phong phú về lượng. Tới nửa đầu thế kỷ XX có một sự chuyển biến rõ rệt” [31; tr.
Bàn về hiệu quả của cái kỳ ảo thời kỳ cuối thế kỷ XX, vẫn theo Đặng Anh Đào thì các nhà văn ở giai đoạn này, đặc biệt là lớp trẻ, không chỉ sử dụng nó như một bút pháp mang lại chất thơ hoặc sự hoài niệm về cội nguồn. Dường như họ sử dụng nó để giải tỏa một số ẩn ức, hoặc phát biểu những điều cấm kị. Theo đánh giá của tác giả thì trong tác phẩm của các nhà văn này cái kỳ ảo chỉ xuất hiện như một yếu tố nghệ thuật. Nó hướng đến cái thần diệu, siêu nhiên của truyện dân gian, hướng về thế giới bên ngoài hơn là chuyển vào nội tâm.
Bởi vậy, hiệu quả đặc trưng của truyện kỳ ảo là thiết lập một trạng thái băn khoăn, bất ổn, thậm chí lo âu. Cái kỳ ảo, dù là mảnh vụn hay “dư ba” trong một câu chuyện, ở nhiều tác phẩm, nó không thể chỉ được coi là bút pháp. Bởi mỗi chi tiết kỳ ảo đã là một đơn vị ngữ nghĩa tạo ra phản ứng đặc trưng của nhân vật lan tỏa tới người đọc. Ở một bài viết khác cũng của Đặng Anh Đào, Lời giới thiệu cho tuyển tập Truyện kinh dị Việt Nam và thế giới, tác giả cho rằng “truyện quái dị thuộc về thế giới hiện đại, khi con người không còn tin vào những chuyện thần tiên nữa”.
Tác giả dẫn lời của Todorov để minh hoạ rõ hơn ý này. Theo đó truyện quái dị “không giới hạn ở yếu tố kỳ ảo mà ở chỗ nó tạo ra một sự “lưỡng lự”, phân vân của độc giả trước những hiện tượng không rõ là siêu nhiên hay tự nhiên. Bởi lẽ những chuyện bất thường hoặc bất tường ấy được đan cài một cách tự nhiên vào cái bình thường hàng ngày trong các truyện quái dị” [125, tr. Đặng Anh Đào nhấn mạnh đến cách thức thể hiện trong tác phẩm hơn là yếu tố quái dị.
Ở loại hình văn học này “các quái dị trong hình thức kể chuyện hiện đại đã ngày càng hướng nội, nó không đơn giản lộ liễu trên cái vỏ vật chất của sự kiện nhân vật như trước nữa.