Tổng quan luận án

Trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc, mảng sáng tác về cái huyễn tưởng, siêu thực và kỳ quái luôn giữ một vị trí đặc thù trong đời sống thưởng thức của công chúng. Vào giai đoạn đầu thế kỷ XX, khi văn học Việt Nam diễn ra cuộc chuyển dịch hệ hình từ trung đại sang hiện đại, mảng sáng tác này đã tham gia vào tiến trình hiện đại hóa văn học chữ quốc ngữ. Tuy nhiên, trong lịch sử nghiên cứu và các bộ giáo trình văn học sử, văn học huyễn tưởng và kinh dị thường bị đặt ở vị trí ngoại vi, bị nhìn nhận là thứ văn chương phóng phiếm hoặc có phần tiêu cực đối với việc giáo hóa đạo đức. Mặc dù từ sau năm 1986 đã xuất hiện nhiều công trình khảo sát, phần lớn các nỗ lực nghiên cứu tập trung vào di sản truyện truyền kỳ trung đại, trong khi mảng truyện kinh dị hiện đại nửa đầu thế kỷ XX chưa được tổng kết toàn diện, có hệ thống. Vấn đề nhận diện thuật ngữ, bản chất loại hình, quy luật vận động và các đặc trưng thi pháp của truyện kinh dị Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống học thuật cần được giải quyết thỏa đáng.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ những đặc điểm cơ bản về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của truyện kinh dị Việt Nam trong bối cảnh văn học dân tộc nửa đầu thế kỷ XX, chỉ ra sự kết hợp giữa việc kế thừa văn học truyền thống và tiếp nhận, cải biến văn học nước ngoài.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nhận diện diện mạo và bản chất của truyện kinh dị Việt Nam thông qua việc xác lập khái niệm và tiêu chí phân loại.
  2. Phác thảo quá trình hình thành, vận động và phát triển của truyện kinh dị trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc.
  3. Trình bày có hệ thống các đặc trưng cơ bản của truyện kinh dị nửa đầu thế kỷ XX trên hai phương diện: nội dung (thế giới hình tượng, dấu ấn văn hóa, lịch sử) và hình thức nghệ thuật (cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ trần thuật).

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các đặc điểm của truyện kinh dị Việt Nam, tập trung vào những tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ. Văn bản khảo sát chính bao gồm sáng tác của các tác giả tiêu biểu như Thế Lữ, Lan Khai, TchyA Đái Đức Tuấn, Nguyễn Tuân, Cung Khanh, Kim Ba, Thanh Tịnh, Bùi Hiển, Bình Nguyên Lộc, Đỗ Huy Nhiệm, Lý Văn Sâm.

Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian tập trung vào nửa đầu thế kỷ XX, giới hạn cụ thể là các tác phẩm xuất bản lần đầu từ năm 1954 trở về trước (kèm một số trường hợp khởi thảo trước mốc này nhưng công bố sau đó). Về mặt không gian văn hóa và so sánh, luận án mở rộng đối chiếu với truyện truyền kỳ, chí quái thời trung đại Việt Nam, cùng các tác phẩm văn học kinh dị, kỳ ảo tiêu biểu của Trung Quốc và phương Tây.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân tích lịch sử nghiên cứu văn học huyễn tưởng, kỳ ảo và truyện kinh dị qua các hệ thống tư liệu quốc tế và trong nước:

Về mặt lý thuyết thế giới, luận án điểm lại các quan niệm về cái kỳ ảo, kinh dị của các tác gia và nhà nghiên cứu như Edgar Allan Poe (Triết lý về soạn tác), Franz Kafka, Jorge Luis Borges, H.P. Lovecraft; các công trình cấu trúc luận của Tzvetan Todorov (Loại hình truyện trinh thám 1966, Cách tiếp cận cấu trúc đối với một thể loại văn học 1975); luận điểm của Roger Caillois về "sự đứt gãy trong chuỗi liên kết vũ trụ"; lý thuyết không - thời gian nghệ thuật (chronotop) của M. Bakhtin; các mục từ trong các bộ từ điển chuyên ngành như Từ điển các thể loại và khái niệm văn học (NXB Albin Michel, 2001), Dẫn giải các ý niệm văn chương của Henri Bénac (2005), Từ điển văn học thế giới của Joseph Twadell Shipley (1964).

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu lý thuyết và thể loại kỳ ảo được phân tích gồm:

  • Phùng Văn Tửu với các bài viết "Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học" (2007) và "Những hướng đổi mới của văn học kỳ ảo thế kỷ XX" (2006), phân biệt văn học kỳ ảo với cái kỳ ảo trong văn học dựa trên tỷ lệ và ý nghĩa cấu trúc.
  • Lã Nguyên với bài viết "Văn học kỳ ảo: nhìn từ hệ hình thế giới quan", tiếp cận kỳ ảo như một phương thức tư duy và mô hình thế giới nghệ thuật.
  • Trương Đăng Dung qua chuyên luận "Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka" (1998), phân tích bản chất của văn học huyễn tưởng gắn liền với mỹ học về nỗi lo âu và sự tha hóa của con người.
  • Nguyễn Văn Dân với các công trình Huyễn tưởng văn học và truyện kinh dị (2002) và chuyên luận Văn học phi lý (2002), khảo sát nguồn gốc truyện kinh dị từ truyền kỳ đến văn học lãng mạn và phi lý thế kỷ XX.
  • Lê Nguyên Long ("Về khái niệm cái kỳ ảo và văn học kỳ ảo trong nghiên cứu văn học"), Lê Nguyên Cẩn (Cái kỳ ảo trong tác phẩm Balzac), Lê Huy Bắc ("Cái kỳ ảo và văn học huyễn ảo", 2006) với đề xuất phân kỳ ba chặng phát triển của văn học huyễn ảo (thần thoại/cổ tích, kỳ ảo thế kỷ XV–XIX, huyền ảo thế kỷ XX đến nay).
  • Đặng Anh Đào qua bài viết "Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam" (2006) và Lời giới thiệu tuyển tập Truyện kinh dị Việt Nam và thế giới.
  • Hệ thống nghiên cứu về truyện truyền kỳ, chí quái của Trần Đình Sử (Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, 1999), Nguyễn Phong Nam (Truyện truyền kỳ Việt Nam, đặc điểm hình thái - văn hóa lịch sử, 2015), Nguyễn Huệ Chi ("Tìm hiểu các dạng truyện kỳ ảo trong văn học cổ trung đại và cận đại Đông Tây", 1999), Vũ Thanh (Dư ba của truyện truyền kỳ, chí dị trong văn học Việt Nam hiện đại), Nguyễn Đăng Na (Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam), Đoàn Lê Giang ("Vũ nguyệt vật ngữ của Ueda Akinari và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ", 2010), Bùi Thanh Truyền với loạt bài về dòng chảy kỳ ảo trong văn học Việt Nam.

Đối với các nghiên cứu trực tiếp về truyện kinh dị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, tác giả phân chia quá trình tiếp cận thành ba giai đoạn:

  1. Giai đoạn trước năm 1954: Các bài viết giới thiệu của Khái Hưng (1934, lời giới thiệu Vàng và Máu), Dương Quảng Hàm (1934, lời giới thiệu Tiếng hú ban đêm), nhận định của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942) về tài năng viết truyện rùng rợn của Thế Lữ và Lan Khai.
  2. Giai đoạn 1954–1975: Sự phân hóa giữa quan điểm vụ thực ở miền Bắc và các ghi nhận rải rác của Lê Văn Siêu, Nguyễn Vỹ ở miền Nam.
  3. Giai đoạn sau 1986 đến nay: Hàng loạt luận văn, luận án khảo sát từng tác giả riêng lẻ như Thế Lữ, Lan Khai, TchyA Đái Đức Tuấn, Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc, Vũ Hạnh.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Chưa có công trình nào xác lập một khái niệm và khung lý thuyết hoàn chỉnh về "truyện kinh dị Việt Nam", chưa phân định rõ ranh giới thể loại giữa truyện kinh dị với truyện truyền kỳ, chí quái, trinh thám và kỳ ảo; đồng thời chưa có cái nhìn hệ thống, toàn diện về diện mạo lịch sử, thi pháp thể loại và giá trị văn hóa - xã hội của truyện kinh dị Việt Nam giai đoạn 1930–1954.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết thi pháp học, tự sự học, loại hình học văn học và văn hóa học để giải mã văn bản. Khái niệm công cụ cốt lõi được xác lập là: "Truyện kinh dị Việt Nam là những tác phẩm văn xuôi chữ quốc ngữ, xuất hiện từ đầu thế kỷ XX trở về sau, lấy việc phản ánh những hiện tượng, nhân vật, sự việc dị thường, kỳ lạ, bí hiểm làm phương thức nghệ thuật đặc thù, nhằm tạo tâm lý lo sợ, hồi hộp và mang lại khoái cảm thẩm mỹ cho người đọc; qua đó phản ánh đời sống tâm linh, văn hóa và xã hội của dân tộc."

Các phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu loại hình: Nhận diện, phân loại và khu biệt truyện kinh dị như một kiểu loại văn học cụ thể trong hệ thống thể loại văn học dân tộc.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các tầng bậc cấu trúc của tác phẩm (không gian, thời gian, nhân vật, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ) rồi khái quát thành các quy luật thi pháp.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thực hiện so sánh đồng đại và lịch đại giữa truyện kinh dị hiện đại với truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam; so sánh đối chiếu với truyện kinh dị phương Tây (Edgar Allan Poe, E.T.A. Hoffmann) và truyện chí dị Trung Quốc (Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh).
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Khảo sát sâu các mẫu văn bản tiêu biểu của các tác gia lớn để rút ra đặc trưng chung.
  • Phương pháp thống kê - mô tả, phương pháp cấu trúc - hệ thống kết hợp góc nhìn liên ngành văn hóa học.

Nguồn ngữ liệu nghiên cứu gồm các tập truyện xuất bản lần đầu trong nửa đầu thế kỷ XX: Vàng và máu, Bên đường thiên lôi, Ba hồi kinh dị, Trại Bồ Tùng Linh, Cái đầu lâu (Thế Lữ); Thần Hổ, Ai hát giữa rừng khuya, Kho vàng Sầm Pun, Ma trành (TchyA Đái Đức Tuấn); Truyện đường rừng (Lan Khai); Yêu ngôn, Xác Ngọc Lam, Trên đỉnh Non Tản, Báo oán (Nguyễn Tuân); Nằm vạ (Bùi Hiển); Cõi âm nơi quán cây dương (Bình Nguyên Lộc); Tiền kiếp (Đỗ Huy Nhiệm); các sáng tác của Cung Khanh, Kim Ba, Thanh Tịnh, Lý Văn Sâm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra của luận án

Chương này tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu văn học huyễn tưởng, kỳ ảo và truyện kinh dị ở cả phương Tây và Việt Nam. Tác giả chứng minh rằng việc tiếp cận mảng văn học này ở Việt Nam diễn ra muộn và trải qua nhiều định kiến do ảnh hưởng của quan niệm đạo đức truyền thống và quan điểm phản ánh hiện thực nghiêm ngặt.

Qua việc đánh giá các công trình trước đây, chương 1 chỉ ra những giới hạn: đa số công trình chỉ dừng lại ở các bài phê bình đơn lẻ, các bài tựa sách, hoặc nghiên cứu một tác giả cụ thể mà thiếu tính hệ thống; chưa giải quyết triệt để vấn đề ranh giới thể loại. Từ đó, chương 1 đặt ra ba nhiệm vụ khoa học then chốt: xác lập khái niệm và diện mạo thể loại, khám phá thế giới hình tượng cùng chiều sâu văn hóa - lịch sử, và phân tích các đặc trưng thi pháp nghệ thuật (cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ).

Chương 2. Diện mạo và quá trình vận động của truyện kinh dị trong văn học Việt Nam

Chương 2 giải quyết vấn đề lý luận thể loại và lịch sử văn học. Tác giả tiến hành chiết tự ngữ nghĩa từ "kinh" (sợ hãi, kinh ngạc) và "dị" (khác lạ, dị thường) theo các từ điển của Trần Văn Chánh và Hoàng Phê, sau đó phân biệt truyện kinh dị với các thể loại lân cận.

Kiểu loại văn học Ngôn ngữ & Thời đại Đặc trưng cốt lõi Chức năng chủ yếu
Truyện truyền kỳ Chữ Hán, thời trung đại Sử dụng yếu tố kỳ ảo để bổ khuyết lịch sử, chuyển tải đạo lý, Nho giáo Giáo huấn, ghi chép dã sử, khẳng định giá trị văn hóa dân tộc
Truyện trinh thám Chữ quốc ngữ, hiện đại Quá trình điều tra phá án dựa trên tư duy logic duy lý của thám tử Giải mã bí mật tội phạm, thỏa mãn trí tuệ logic
Truyện kinh dị Chữ quốc ngữ, đầu thế kỷ XX Khai thác hiện tượng dị thường, huyền bí nhằm kiến tạo mỹ học nỗi sợ hãi Giải trí, tạo khoái cảm thẩm mỹ từ nỗi sợ, khám phá vô thức

Chương này cũng phác thảo quá trình vận động của truyện kinh dị Việt Nam qua hai giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (1930–1954): Thời kỳ hình thành và đạt đến đỉnh cao với các phong cách tiêu biểu: Thế Lữ (kết hợp kinh dị với suy lý khoa học), TchyA Đái Đức Tuấn (đậm chất ma quái đường rừng và tâm linh bản địa), Lan Khai (huyền bí rừng thiêng nước độc gắn với phong tục miền núi), Nguyễn Tuân (chất kinh dị tài hoa, hoài cổ trong Yêu ngôn).
  • Giai đoạn 2 (1954 đến đầu thế kỷ XXI): Sự phân nhánh và tiếp nối trong các bối cảnh văn hóa - lịch sử mới ở cả hai miền trước năm 1975 và sự phục hưng sau thời kỳ Đổi mới (1986).

Chương 3. Thế giới hình tượng và dấu ấn văn hóa, lịch sử trong truyện kinh dị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Chương 3 đi sâu vào các bình diện nội dung và thế giới nghệ thuật của truyện kinh dị giai đoạn 1930–1954:

  • Không gian nghệ thuật: Mang tính lưỡng phân rõ rệt giữa không gian đời thường và không gian "xứ lạ", bí hiểm. Đó là cảnh sắc rừng thiêng Tây Bắc, Vạn Bửu, Sầm Pun hoang vu, những hang động tăm tối, nhà trọ hoang phế, cổ miếu âm u, trại ấp cô quạnh (như trong Trại Bồ Tùng Linh, Kho vàng Sầm Pun).
  • Thời gian nghệ thuật: Thường là ban đêm, lúc chạng vạng, đêm trăng mờ, bão gió hoặc khoảnh khắc canh khuya thanh vắng – thời điểm ranh giới giữa cõi âm và cõi dương bị xóa nhòa.
  • Hệ thống hình tượng nhân - vật: Phân chia thành hai nhóm chính:
    1. Hình tượng dị thường: Ma quỷ, linh hồn hiện hình (Cái đầu lâu, Người đàn bà trong trắng), ma trành, hổ thần ăn thịt người (Thần Hổ, Ma trành), các hiện tượng đầu thai, báo oán, xác chết sống lại.
    2. Hình tượng con người: Thường bị đặt vào trạng thái căng thẳng tột độ, phân vân giữa thực và ảo, đối diện với nỗi hoang mang hiện sinh và sự bất lực của lý trí trước những bí ẩn chưa thể giải thích.
  • Dấu ấn văn hóa và lịch sử:
    • Dấu ấn văn hóa: Phản ánh tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tục thờ Thần Hổ, bùa chú, quan niệm luân hồi nghiệp báo, nhân quả của Phật giáo và Đạo giáo dân gian Việt Nam.
    • Dấu ấn lịch sử - thời đại: Sự rạn nứt tâm lý của con người thời kỳ giao thời Á - Âu, nỗi lo sợ trước sự biến đổi xã hội và tâm trạng bế tắc của tầng lớp trí thức tiểu tư sản thành thị trước năm 1945 được khúc xạ qua các biểu tượng ma quái.

Chương 4. Đặc điểm truyện kinh dị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX qua cốt truyện, kết cấu và ngôn ngữ

Chương 4 phân tích các phương diện hình thức nghệ thuật mang tính thi pháp:

  • Đặc điểm cốt truyện: Xây dựng dựa trên sự kiện bất thường, ly kỳ; đan cài các tình huống bí ẩn với việc thăm dò tâm lý nhân vật. Cốt truyện thường diễn tiến theo mô hình: xuất hiện hiện tượng kỳ quái -> điều tra/trải nghiệm trong sợ hãi -> giải mã một phần hoặc để ngỏ sự hoài nghi (lưỡng lự theo lý thuyết của Todorov).
  • Đặc điểm kết cấu: Luận án chỉ ra sự phổ biến của kết cấu lồng khung (truyện lồng trong truyện), người kể chuyện ngôi thứ nhất nghe kể lại một câu chuyện trong quá khứ; kết cấu đồng hiện giữa hiện tại và tiền kiếp; kết cấu trì hoãn (suspense) nhằm kéo dài trạng thái căng thẳng và dồn nén cảm xúc sợ hãi của người đọc trước khi mở nút.
  • Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật:
    • Ngôn ngữ gợi cảm giác ma quái, rùng rợn thông qua hệ thống từ ngữ miêu tả thị giác, thính giác đậm đặc (tiếng hú, tiếng nghiến răng ken két, ánh trăng xanh xao, bóng đen chập chờn).
    • Ngôn ngữ giàu kịch tính, nhịp điệu trần thuật biến hóa linh hoạt, kết hợp lời kể bên ngoài với dòng độc thoại nội tâm đầy hoảng loạn của nhân vật.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được những kết quả học thuật cụ thể:

  1. Về mặt lý luận: Xác lập một định nghĩa khoa học và hệ tiêu chí khu biệt cho thể loại "truyện kinh dị" trong văn học Việt Nam; phân định rõ đường biên giữa truyện kinh dị với truyện truyền kỳ trung đại, truyện trinh thám và các hình thái kỳ ảo khác.
  2. Về mặt lịch sử văn học: Phục dựng bức tranh toàn cảnh về diện mạo và tiến trình vận động của truyện kinh dị Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954; khẳng định truyện kinh dị là một bộ phận hợp thành của văn xuôi quốc ngữ, góp phần thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
  3. Về mặt thi pháp và văn hóa: Hệ thống hóa toàn diện các đặc trưng nội dung (mỹ học nỗi sợ hãi, thế giới hình tượng xứ lạ, dấu ấn tâm linh và tâm thức thời đại) cùng các đặc trưng nghệ thuật (cốt truyện ly kỳ, kết cấu lồng khung, ngôn ngữ trần thuật giàu kịch tính) của truyện kinh dị nửa đầu thế kỷ XX.

Về mặt kiến nghị: Luận án đề xuất giới nghiên cứu và giảng dạy văn học cần đưa mảng sáng tác truyện kinh dị giai đoạn 1930–1945 vào các bộ giáo trình lịch sử văn học Việt Nam với một vị trí công bằng, nhìn nhận đúng giá trị nghệ thuật và chức năng giải trí thẩm mỹ mà nó đã đóng góp cho nền văn học hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Do điều kiện lưu trữ và thất lạc tư liệu văn học chữ quốc ngữ thời kỳ trước năm 1945, luận án chỉ tập trung khảo sát các tác phẩm xuất bản thành sách hoặc đã được tái bản, chưa thể bao quát toàn bộ các truyện kinh dị đăng tải tản mạn trên báo chí, tạp chí đương thời.
  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giai đoạn trước năm 1954, do đó diện mạo truyện kinh dị giai đoạn sau năm 1954 ở miền Nam và giai đoạn sau năm 1986 chỉ mới được phác thảo mang tính gợi mở.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng sưu tầm, khôi phục các văn bản truyện kinh dị đăng nhiều kỳ trên báo chí giai đoạn 1930–1945.
  • Tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về sự biến chuyển của truyện kinh dị Việt Nam giai đoạn 1954–1975 ở đô thị miền Nam và xu hướng phục hưng của thể loại này trong văn học đương đại từ sau năm 1986 đến nay.
  • Thực hiện các đề tài so sánh liên văn hóa sâu hơn giữa truyện kinh dị Việt Nam với văn học kinh dị khu vực Đông Á và phương Tây.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tư liệu và phương pháp cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học: Cung cấp khung lý thuyết về thể loại kinh dị và hệ thống dẫn liệu văn bản văn xuôi giai đoạn 1930–1954.
  • Người làm công tác biên soạn văn học sử và giáo trình đại học: Cung cấp góc nhìn bổ khuyết cho các giai đoạn văn học lãng mạn và hiện thực trước năm 1945, đưa mảng văn học kinh dị từ ngoại vi vào diện mạo chung của tiến trình hiện đại hóa.
  • Tác giả, nhà biên kịch và người thực hành sáng tạo đương đại: Cung cấp nguồn tư liệu về thi pháp xây dựng cốt truyện, không gian kỳ bí và cách khai thác chất liệu văn hóa tâm linh dân gian Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "truyện kinh dị" được luận án định nghĩa như thế nào trong ngữ cảnh văn học Việt Nam? Truyện kinh dị Việt Nam được xác định là những tác phẩm văn xuôi chữ quốc ngữ xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, lấy việc phản ánh các hiện tượng, nhân vật, sự việc dị thường, kỳ quái làm phương tiện nghệ thuật nhằm tác động vào tâm lý, gây cảm giác hồi hộp, sợ hãi và mang lại khoái cảm thẩm mỹ cho độc giả, qua đó phản ánh các chiều kích tâm lý, văn hóa và xã hội của đời sống con người.

2. Điểm khác biệt cốt lõi giữa truyện kinh dị hiện đại nửa đầu thế kỷ XX và truyện truyền kỳ trung đại là gì? Truyện truyền kỳ trung đại viết bằng chữ Hán, dùng yếu tố kỳ ảo nhằm mục đích bổ khuyết lịch sử, giáo huấn đạo lý Nho giáo và thể hiện quan niệm vũ trụ phân cực. Ngược lại, truyện kinh dị hiện đại viết bằng chữ quốc ngữ, sử dụng yếu tố dị thường để khám phá thế giới nội tâm, vô thức, giải tỏa ẩn ức tâm lý và tạo khoái cảm thẩm mỹ giải trí cho con người thời hiện đại.

3. Luận án khảo sát các tác gia và tác phẩm tiêu biểu nào? Các tác giả và tác phẩm trọng tâm gồm: Thế Lữ (Vàng và máu, Bên đường thiên lôi, Ba hồi kinh dị, Trại Bồ Tùng Linh, Cái đầu lâu), TchyA Đái Đức Tuấn (Thần Hổ, Ai hát giữa rừng khuya, Kho vàng Sầm Pun), Lan Khai (Truyện đường rừng), Nguyễn Tuân (Yêu ngôn, Xác Ngọc Lam, Trên đỉnh Non Tản), Bùi Hiển (Nằm vạ), Bình Nguyên Lộc (Cõi âm nơi quán cây dương), Đỗ Huy Nhiệm (Tiền kiếp), cùng các sáng tác của Cung Khanh, Kim Ba, Thanh Tịnh, Lý Văn Sâm.

4. Không gian và nhân vật trong truyện kinh dị Việt Nam giai đoạn 1930–1954 có đặc điểm gì? Không gian nghệ thuật thường là vùng "xứ lạ" hoang vu như rừng sâu, hang động miền núi Tây Bắc, ngôi nhà cổ, trại ấp hoang vắng vào ban đêm. Nhân vật gồm hai tuyến: các thực thể siêu nhiên (ma quỷ, thần hổ, ma trành, bộ xương) và con người hiện đại bị đẩy vào trạng thái hoang mang, bất an, đối diện với nỗi sợ cái chết và sự bất lực của lý tính.

5. Truyện kinh dị có vai trò gì trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam? Truyện kinh dị tham gia làm phong phú thể loại văn xuôi chữ quốc ngữ, đáp ứng nhu cầu thưởng thức mới của công chúng thành thị, đồng thời đổi mới kỹ thuật tự sự thông qua kết cấu lồng khung, nghệ thuật trì hoãn kịch tính và việc đào sâu vào tâm lý, vô thức con người.

Kết luận

Luận án "Đặc điểm truyện kinh dị Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX" của NCS. Võ Thị Bảy là công trình nghiên cứu hệ thống về một thể loại văn học từng bị xem là ngoại vi trong lịch sử văn học dân tộc. Bằng việc xác lập khung khái niệm rõ ràng và vận dụng các phương pháp nghiên cứu thi pháp học, loại hình học kết hợp văn hóa học, luận án đã làm sáng tỏ diện mạo, quá trình vận động cùng các đặc trưng nội dung và nghệ thuật của truyện kinh dị giai đoạn 1930–1954. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị trí của truyện kinh dị như một thành tố trong tiến trình hiện đại hóa văn xuôi quốc ngữ Việt Nam.