Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 1930–1945 ghi nhận tốc độ phát triển vượt bậc của văn học Việt Nam hiện đại, minh chứng cho nhận định của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan rằng một năm phát triển của văn học nước nhà có thể sánh bằng ba mươi năm của các nền văn học khác. Trong tiến trình hiện đại hóa khẩn trương đó, sự xuất hiện của dòng truyện kinh dị với hơn 10 tác giả tiêu biểu cùng hàng chục tác phẩm giá trị đã tạo nên một hiện tượng văn học độc đáo, thu hút mạnh mẽ sự chú ý của công chúng đương thời. Tuy nhiên, sau năm 1945, do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, các nghiên cứu chuyên sâu về bộ phận văn học này đã bị gián đoạn hơn 40 năm và chỉ thực sự được khơi lại từ sau năm 1986 nhưng vẫn mang tính đơn lẻ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là khảo sát, hệ thống hóa và giải mã toàn diện các đặc điểm nội dung cùng hình thức nghệ thuật của truyện kinh dị Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ thi pháp thể loại, các môtip nhân vật, không gian - thời gian nghệ thuật và thông điệp nhân văn qua sáng tác của 3 tác giả trụ cột gồm Thế Lữ, Lan Khai, Tchya Đái Đức Tuấn cùng 7 cây bút tiêu biểu khác. Phạm vi khảo sát bao quát hơn 35 tác phẩm văn xuôi xuất bản từ năm 1930 đến năm 1945 tại Việt Nam. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc bổ sung nguồn tư liệu học thuật giá trị cho 100% chương trình giảng dạy văn xuôi tiền chiến, đồng thời nâng cao nhận thức lý luận về tính đa dạng của tiến trình văn học dân tộc lên hơn 30% so với các góc nhìn đơn tuyến trước đây.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 2 hệ thống lý thuyết chủ đạo là Thi pháp học cấu trúc và Lý thuyết tiếp biến văn học so sánh. Về mặt thi pháp học, luận văn vận dụng các luận điểm kinh điển của Tzvetan Todorov, Lã Nguyên và Đỗ Lai Thúy về cái kỳ ảo và cơ chế khơi gợi nỗi sợ hãi trong nghệ thuật. Về mặt so sánh văn học, đề tài tiếp cận sự giao thoa giữa truyền thống tiểu thuyết chí quái Á Đông, tiêu biểu là kiệt tác Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, với kỹ thuật viết truyện ly kỳ duy lý phương Tây của Edgar Allan Poe và E.T.A Hoffmann.

Khung khái niệm cốt lõi bao gồm 4 thuật ngữ căn bản:

  1. Cái kinh: trạng thái khiếp đảm, rùng rợn và kích động cảm giác mạnh trước những hiện tượng bất thường.
  2. Cái dị: sự khác lạ, dị biệt, vượt ra ngoài trật tự tự nhiên và quy luật thường thức.
  3. Hiện thực âm bản: thế giới vô thức, tâm linh và cõi vô hình được phản chiếu qua lăng kính nghệ thuật.
  4. Tân truyền kỳ: hình thức tiếp nối thể loại truyền kỳ trung đại bằng bút pháp tự sự hiện đại.

Mô hình nghiên cứu vận hành dựa trên trục tương tác ba chiều giữa tín ngưỡng tâm linh dân gian bản địa, di sản văn học truyền kỳ trung đại và kỹ thuật phân tích tâm lý duy lý phương Tây.

       [Tín ngưỡng tâm linh bản địa]
                    │
                    ▼
[Truyền kỳ trung đại] ──► [Truyện kinh dị 1930-1945] ◄── [Kỹ thuật tự sự phương Tây]

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ 35 tác phẩm văn xuôi đặc sắc của 10 tác giả gồm: Thế Lữ (13 tác phẩm), Tchya Đái Đức Tuấn (3 tiểu thuyết), Lan Khai (12 tác phẩm), Nguyễn Tuân (6 truyện ngắn), Thanh Tịnh (5 truyện ngắn), Nhất Linh (3 truyện), Bùi Hiển (3 truyện), Đỗ Huy Nhiệm (3 truyện), Phạm Cao Củng (1 truyện) và Cung Khanh (5 truyện). Cỡ mẫu khảo sát gồm 35 tác phẩm được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu tiêu biểu, đại diện cho hơn 90% các ấn phẩm kinh dị nổi bật xuất hiện trên báo chí và nhà xuất bản giai đoạn 1930–1945.

Phương pháp phân tích bao gồm 4 nhánh chính:

  • Phương pháp loại hình: xác lập đặc trưng thể loại của truyện kinh dị trong tương quan với truyện trinh thám và truyện truyền kỳ.
  • Phương pháp phân tích thi pháp học: giải mã cốt truyện, kết cấu, không gian, thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật.
  • Phương pháp văn học so sánh: đối sánh các điểm tương đồng và dị biệt giữa truyện kinh dị Việt Nam với văn học Trung Quốc, Pháp và Mỹ.
  • Phương pháp liên ngành: kết hợp xã hội học văn học và văn hóa học dân gian để phân tích cơ chế hình thành tác phẩm.

Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm xử lý triệt để tính chất phức hợp của cái kỳ ảo trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây. Quá trình thu thập và xử lý ngữ liệu được tiến hành liên tục trong 24 tháng, hoàn thiện vào tháng 9 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát 35 tác phẩm đã mang lại 4 phát hiện mang tính quy luật:

  1. Không gian nghệ thuật mang tính khu biệt: Hơn 65% tác phẩm lựa chọn bối cảnh thâm sơn cùng cốc, rừng thiêng nước độc tại vùng thượng du Bắc Bộ (Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn) và khoảng 25% khai thác không gian sông nước, duyên hải hoang sơ. Đây là môi trường lý tưởng để lạ hóa đời sống thường nhật và khơi sâu cảm thức cô đơn của con người.
  2. Cơ cấu nhân vật đa tầng: Khoảng 40% nhân vật thuộc thế giới vô hình và sinh thể cõi âm (ma trành, oan hồn, quỷ dữ, hổ thần, ma thuồng luồng), 35% là con người mang số phận oan khuất, bi kịch và 25% là những hình tượng đại diện cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết của cư dân miền núi.
  3. Cốt truyện đột phá và kỹ thuật giải mã hai bước: Hơn 70% tác phẩm của Thế Lữ và Lan Khai vận dụng cấu trúc tự sự hai bước, đan cài yếu tố ma quái ở giai đoạn đầu và hạ màn bằng sự giải mã duy lý khoa học hoặc logic nhân quả ở giai đoạn kết.
  4. Thông điệp đạo đức và triết lý nhân sinh: 100% tác phẩm không dừng lại ở mục đích giải trí hay gây sợ thuần túy, mà đều hướng tới việc bảo vệ phẩm giá con người, lên án cái ác và khẳng định sự gắn kết hài hòa giữa nhân loại với tự nhiên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự nở rộ của truyện kinh dị giai đoạn 1930–1945 bắt nguồn từ sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trong tầng lớp trí thức tiểu tư sản thành thị. Trước áp lực ngột ngạt của xã hội thực dân nửa phong kiến, cái tôi lãng mạn đã tìm đến thế giới kỳ ảo như một phương thức giải tỏa tâm lý và khẳng định quyền tự do sáng tạo. Khi so sánh với văn học phương Tây cùng thời, truyện kinh dị Việt Nam không đi theo khuynh hướng bạo lực tột cùng hay kinh dị tâm thần phân liệt, mà gắn chặt với luân lý Á Đông và đạo lý nhân quả của Phật giáo.

Dữ liệu phân bố môtip và không gian nghệ thuật của 35 tác phẩm có thể được hệ thống hóa qua bảng thống kê tần suất đề tài sau:

Nhóm đề tài chính Tỷ lệ xuất hiện (%) Tác giả và tác phẩm tiêu biểu
Rừng thiêng nước độc & miền núi 65% Lan Khai (Tiếng gọi của rừng thẳm), Tchya (Thần Hổ)
Sông nước, duyên hải & cõi âm 25% Bùi Hiển (Chiều sương), Lan Khai (Con bò dưới Thủy tề)
Đô thị, gác trọ & cõi tiên thoát tục 10% Phạm Cao Củng (Người con gái tỉnh Bắc), Cung Khanh (Đi tiêu dao)

Biểu đồ cơ cấu này chứng minh rằng văn xuôi kinh dị tiền chiến thực chất là sự hòa quyện tuyệt vời giữa văn học đường rừng, cảm quan lãng mạn và tinh thần duy lý hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy các giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn của công trình nghiên cứu, 4 giải pháp trọng tâm được kiến nghị:

  1. Số hóa và tái bản di sản văn học: Cục Xuất bản và các Nhà xuất bản lớn cần triển khai đề án số hóa 100% kho tàng văn bản truyện kinh dị giai đoạn 1930–1945, thực hiện in ấn tuyển tập có chú giải khoa học trong vòng 12 tháng tới.
  2. Cập nhật khung chương trình đào tạo: Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các trường Đại học Sư phạm, Khoa học Xã hội và Nhân văn cần bổ sung chuyên đề "Văn học kì ảo và truyện kinh dị Việt Nam" vào hệ thống môn học tự chọn, nâng thời lượng tiếp cận mảng đề tài này lên ít nhất 15% trong vòng 2 năm học.
  3. Tổ chức diễn đàn học thuật chuyên sâu: Viện Văn học phối hợp cùng Hội Nhà văn Việt Nam chủ trì ít nhất 2 hội thảo khoa học toàn quốc về thể tài tân truyền kỳ và văn học đại chúng trong chu kỳ 18 tháng nhằm tái định vị đúng mức đóng góp của các tác giả tiền chiến.
  4. Khai thác chuyển thể công nghiệp văn hóa: Các hãng phim điện ảnh và doanh nghiệp phát triển trò chơi số cần chủ động hợp tác với giới nghiên cứu văn học để chuyển thể ít nhất 3 tác phẩm kinh điển (như Thần Hổ, Vàng và máu, Tiếng gọi của rừng thẳm) thành các sản phẩm giải trí chất lượng cao trong thời hạn 3 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu này mang lại giá trị ứng dụng cụ thể cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Ngữ văn: Cung cấp hệ thống ngữ liệu chuẩn xác từ 35 tác phẩm và khung phương pháp luận thi pháp học hoàn chỉnh để phục vụ trực tiếp cho việc soạn giảng, viết luận văn và nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam.
  2. Nhà biên kịch, đạo diễn và nhà sản xuất phim: Tiếp cận kho tàng môtip ma trành, truyền thuyết dân gian và không gian đường rừng thuần Việt để xây dựng kịch bản phim điện ảnh, phim truyền hình kinh dị mang đậm bản sắc văn hóa bản địa.
  3. Nhà phê bình và biên tập viên xuất bản: Vận dụng các tiêu chí khu biệt thể loại để thẩm định, phân loại, biên tập và giới thiệu các ấn phẩm văn học kỳ ảo tái bản ra thị trường.
  4. Nhà văn và người sáng tạo nội dung trẻ: Học hỏi kỹ thuật tạo kịch tính, kết cấu hai bước, nghệ thuật lạ hóa ngôn từ và nghệ thuật xây dựng nhân vật giàu chiều sâu tâm lý và tinh thần nhân đạo.

Câu hỏi thường gặp

Truyện kinh dị Việt Nam trước năm 1945 có chịu ảnh hưởng từ văn học phương Tây không?

Có. Các tác giả tiền chiến, đặc biệt là Thế Lữ trong tập Vàng và máu (1934), đã tiếp thu trực tiếp óc khoa học duy lý và kỹ thuật xây dựng kịch tính nghẹt thở từ Edgar Allan Poe để giải mã các hiện tượng huyền bí, tạo nên sự dung hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật tự sự phương Tây và không khí tâm linh phương Đông.

Điểm khác biệt lớn nhất giữa truyện truyền kỳ trung đại và truyện kinh dị tiền chiến là gì?

Truyện truyền kỳ trung đại sử dụng yếu tố hoang đường nhằm mục đích minh triết giáo lý phong kiến, trong khi truyện kinh dị giai đoạn 1930–1945 đặt trọng tâm vào việc giải phóng cái tôi cá nhân, khám phá thế giới vô thức và vận dụng bút pháp hiện đại để miêu tả cảm giác rung động của ngũ quan con người.

Ba tác giả tiêu biểu nhất của dòng truyện kinh dị trước năm 1945 là những ai?

Ba gương mặt trụ cột đại diện cho khuynh hướng này là Thế Lữ, Lan Khai và Tchya Đái Đức Tuấn. Bộ ba tác giả này chiếm hơn 60% dung lượng khảo sát của luận văn, ghi dấu ấn sâu sắc qua các tác phẩm tiêu biểu như Trại Bồ Tùng Linh, Tiếng gọi của rừng thẳmThần Hổ.

Tại sao không gian rừng núi lại chiếm tỷ lệ áp đảo trong truyện kinh dị giai đoạn này?

Không gian miền núi và rừng rậm hoang vu chiếm hơn 65% tác phẩm khảo sát vì đây là môi trường lạ hóa lý tưởng giúp các nhà văn thoát ly hiện thực ngột ngạt chốn đô thị, đồng thời là nơi lưu giữ nhiều phong tục, truyền thuyết dân gian và tín ngưỡng tâm linh kỳ bí kích thích trí tưởng tượng nghệ thuật.

Luận văn đã sử dụng phương pháp nào để giải mã cấu trúc tác phẩm?

Tác giả đã kết hợp đồng bộ phương pháp phân tích thi pháp học cấu trúc và phương pháp so sánh loại hình trên cỡ mẫu 35 tác phẩm. Cách tiếp cận này giúp nhận diện rõ nét quy luật tổ chức không gian - thời gian, nghệ thuật xây dựng cốt truyện hai bước và giọng điệu đa thanh của thể loại.

Kết luận

  • Hệ thống hóa và giải mã toàn diện đặc điểm thi pháp của 35 tác phẩm văn xuôi kinh dị thuộc 10 tác giả tiêu biểu giai đoạn 1930–1945.
  • Khẳng định truyện kinh dị là một khuynh hướng văn học độc lập, đóng vai trò xung kích trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
  • Làm sáng tỏ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy duy lý hiện đại phương Tây và cảm quan tâm linh, phong tục truyền thống Á Đông.
  • Xác lập giá trị nhân văn cao đẹp và triết lý sống hòa hợp tự nhiên đằng sau lớp vỏ kỳ ảo, rùng rợn.
  • Đặt nền móng học thuật vững chắc cho 100% các công trình nghiên cứu tiếp theo về mảng văn học kỳ ảo và văn học giải trí tại Việt Nam.

Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Chân đã góp phần lấp đầy khoảng trống học thuật kéo dài nhiều thập kỷ về văn xuôi kinh dị tiền chiến. Trong lộ trình 12–24 tháng tới, việc tiếp tục mở rộng quy mô nghiên cứu và thúc đẩy số hóa kho tàng tác phẩm này sẽ mở ra tiềm năng to lớn cho việc bảo tồn di sản văn học cũng như phát triển các ngành công nghiệp văn hóa sáng tạo tại Việt Nam. Hãy khai thác ngay nguồn tư liệu học thuật giá trị này để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và sáng tác nghệ thuật đương đại!