Chương 1 TIỂU THUYẾT TRINH THÁM – KINH DỊ CỦA DI LI TRONG VĂN XUÔI TRẺ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Giới thuyết về truyện trinh thám Truyện trinh thám là tập hợp những tác phẩm văn học xoay quanh một vụ án, một hành trình điều tra. Câu chuyện được tổ chức theo sự vận động tuyến tính, trong đó thám tử, tội phạm và tất cả các nhân vật liên quan đến hành trình kiếm tìm không nằm ngoài định hướng làm sáng tỏ điều bí ẩn.
Thể tài văn học này bùng nổ trong xã hội phương Tây, bắt nguồn từ Mỹ, nở rộ ở Anh, Pháp và sau đó lan rộng ra nhiều nước trên thế giới như Nga, Nhật, Trung Quốc. Văn học trinh thám bắt đầu từ phương Tây, có mầm mống từ Kinh Thánh với truyền thuyết về Abel và Cain, về Daniel…, được tiếp tục trong các truyện bí hiểm đậm chất duy lí thời kì Khai Sáng (tiêu biểu là tác phẩm “Zadig” của Voltaire), và đến thế kỉ XIX, văn học trinh thám chính thức khai sinh với các sáng tác của nhà văn Mĩ E. Nhiều tác phẩm đã trở thành niềm đam mê của đông đảo bạn đọc, như Bí mật của Marie Roget, Mi cũng là một con người của E.Poe, Dải băng lốm đốm, Thám tử Sherlock Holmes của Conan Doyle, Mười người da đen nhỏ của Agatha Christie, Độc giả thứ 7, Đề thi đẫm máu của Lôi Mễ, Người đàn bà ở đầu dây điện thoại của Shizuko Natshuki. Ở Việt Nam, đó là Bàn tay sáu ngón, Kỳ Phát giết người, Chiếc gối đẫm máu của Phạm Cao Củng, Mảnh trăng thu của Bửu Đình, Vàng máu của Thế Lữ, cùng những tác phẩm thuộc thể tài truyện phản gián - tình báo như Ông cố vấn của Hữu Mai, X30 phá lưới của Đặng Thanh.
Truyện trinh thám chủ yếu gắn với nhu cầu giải trí của độc giả. Nhiều nhà văn trinh thám đã coi nhẹ yếu tố văn chương để tập trung vào những tình c 11 tiết gay cấn, li kỳ như một phương thức câu khách. Đây cũng là lí do khiến truyện trinh thám dù thu hút đông đảo số lượng độc giả nhưng vẫn bị xếp vào khu vực cận văn học, văn học bình dân. Tuy nhiên, trong tiến trình vận động phát triển, văn học trinh thám đã có nhiều thay đổi để tiếp tục con đường chinh phục độc giả với những đòi hỏi thẩm mỹ khắt khe hơn.
Bàn về văn học trinh thám, TS Nguyễn Văn Tùng đã nhận định rằng: Sự ra đời của văn học trinh thám đáp ứng nhu cầu của nhân loại nhằm nâng cao thức thức tự vệ, khả năng phát hiện và chống lại cái ác; rèn cho con người tư duy loogic, khả năng phán đoán chính xác và phản ứng nhanh [theo Lí luận văn học và đổi mới đọc hiểu tác phẩm, NXB Giáo dục Việt Nam, tr162]. Là thể tài văn học thứ yếu, tiểu thuyết trinh thám (policier) trong cách giải thích thuần túy nhất, là không phải tiểu thuyết đen, tiểu thuyết phản gián hoặc tiểu thuyết li kì, giật gân (thriller), mà là tiểu thuyết trinh thám về ẩn ngữ, trong đó người đại diện có một không hai là Agatha Christie đã sản sinh ra những tác phẩm làm say mê nhất và có nhiều đổi mới nhất trong văn học. Việc xuất bản mới đây những tác phẩm cuối cùng của ba “nữ hoàng về tội ác” P.Rendell đã mang lại cho văn học bằng chứng về các bậc thầy của thể tài này. Nếu, kể từ Tiểu thuyết Mới, tính hiện đại dường như đã tước đi từ tiểu thuyết khuynh hướng trần thuật của nó, thì tiểu thuyết trinh thám, ngược lại, đã cáng đáng trọn vẹn cái chức năng đầu tiên và cơ bản này của văn học, ở điểm là ngày nay dường như chỉ còn duy nhất các nhà văn tiểu thuyết trinh thám là những người còn biết kể những gì một câu chuyện muốn kể.
Trung tâm của một tiểu thuyết trinh thám không phải là tội ác mà là cuộc điều tra: “Cái chết thật đáng tò mò, bạn có thấy thế không? Khi con người chết vì bệnh tật, đó thật là tàn nhẫn, vô lí, nhưng đó lại là cái chết thực sự. Khi họ chết vì các tội ác, vì bọn giết người, bọn ám sát, cái chết lại trở nên c 12 trừu tượng. Giống như là giải pháp về cái bí ẩn đã xảy ra từ trước. Giống như ta đang sống trong tiểu thuyết trinh thám vậy” (Chủ nhật rực rỡ, phim của Franỗois Truffaut, 1983).
Trong tiểu thuyết trinh thám, cái chết không xuất hiện như là sự phi lí, quá đáng, không thể tưởng tượng được, mà nó, giống như trong một phương trình, một ẩn số thích hợp để cấp cho nó một giá trị. Cái chết đó xui nên cuộc điều tra về ý nghĩa mà không gây sợ hãi hoặc làm xáo trộn. Sự sâu sắc của tiểu thuyết trinh thám là không được có ở đó bất cứ một cái nhìn, một ý thức hệ, một chủ nghĩa tượng trưng nào coi đó như là ý nghĩa và sự phong phú của truyện kể; truyện kể trinh thám là chính nó ở sự sáng tỏ thực sự của nó, trong chừng mực mà nó bị phụ thuộc vào một ẩn ngữ. Những “tiểu thuyết đen”, như các tác phẩm của James Ellroy, Ed McBain, Lieberman, đều được biểu lộ qua một trạng thái căng giữa những khả năng bất tận của tính mơ mộng, có thể nhập vào những luận đề về con người, thế giới, xã hội, Chúa trời, với sự lôgic thuần túy mang tính tự sự và tuyến tính của tiểu thuyết trinh thám.
Bởi vì tiểu thuyết trinh thám không phải là gì khác hơn là “truyện kể vị truyện kể”, cũng giống như “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Trong truyện trinh thám, không có gì là “cho không” cả: mọi thứ được viết ra đều có một lí do tồn tại- giống như thế giới của tiểu thuyết trinh thám bị chi phối bởi một “nguyên lí về lí do đầy đủ”: “Chẳng có gì xảy ra mà không có lí do đầy đủ, nghĩa là không có gì xảy ra mà không thể được đối với người hiểu biết tương đối các sự vật để mang lại một lí do đủ xác định tại sao nó lại như vậy, mà không phải khác đi” (Leibniz, Những nguyên lí của Tự nhiên và của Ân sủng, 1714). Là công trình của lí tính, tiểu thuyết trinh thám trình bày ngay tức thì như một cuộc điều tra về sự thật. Nhưng cái sự thật đó không cư trú ở ngoài - văn bản, phó mặc cho độc giả và cho những kiến giải của họ: trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám, tất cả đều được nói ra, nói đúng ra, là để tưởng tượng.
Không hề có một “khoảng trống”, một sự bí ẩn nào, trừ cái người biết ai đã c 13 giết người. Nhưng ngay cả sự bí ẩn đó cũng không phải chỉ có một, bởi vì sự giải quyết chỉ được thấy ở đâu đó trong những gì đã được miêu tả và đã được biết đến. Khuynh hướng tự nhiên của độc giả là tin rằng sự thật cần phải được sáng tạo, nó nằm ở những chỗ sâu xa của truyện kể và rằng sự lí giải phải có những nỗ lực mới đưa được ra ánh sáng. Vậy mà, sự thật thì vẫn luôn luôn ở đó, nó không bị lộ ra, nhưng là hồi ức độc giả sẽ nhớ lại, vào lúc cuối truyện rằng văn bản đã giấu nó ngay từ đầu.
Mối liên quan với sự thật và nguyên lí của lí do đầy đủ đã tổ chức nên điều đó (toàn bộ những gì được viết ra đều bị phụ thuộc vào cốt truyện, cốt truyện ở đây là lí do cuối cùng) đã khiến tiểu thuyết trinh thám là một phản - tiểu thuyết. Giới thuyết về truyện kinh dị Khi công chúng bắt đầu chán chê các loại tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết hiện thực vốn đã chiếm ưu thế từ năm 1860 thì họ bắt đầu tìm kiếm những thể tài mới. Dĩ nhiên là vẫn còn nhiều người đọc các loại tiểu thuyết ấy, nhưng riêng những độc giả tinh tế, sâu sắc và đòi hỏi cao hơn thì lại muốn có một cái gì đó khác với việc miêu tả trung thực thế giới khách quan hay những con người trong đời thực. Văn học loại này phụ thuộc quá nhiều vào logic, lý trí và những chuẩn mực của xã hội nên nhiều khi đã tỏ ra đơn điệu và cứng nhắc.
Tất cả những ai khao khát một sự thật sâu sắc và một điều gì đó như là sự tiết lộ đều quay sang thể tài kinh dị với nhiều hy vọng. Họ linh cảm rằng chỉ có thể tài này mới có thể đáp ứng được những nguyện vọng sâu kín nhất của họ. Yếu tố kinh dị có thể được nuôi bằng sự hoang tưởng, đôi khi là sự cuồng loạn, nhưng nó luôn được nuôi bằng niềm hy vọng của độc giả. Hầu hết các giới đều phản đối các nhà văn viết tiểu thuyết kinh dị.
Những người có thần kinh mạnh mẽ thì không thích những chi tiết ma quái vì họ luôn nhớ là ngày xưa ở trường, người ta đã dạy họ rõ ràng là một với một là hai. Những người theo đạo Thiên Chúa giáo thì ngờ rằng các nhà văn c 14 viết truyện kinh dị đã về phe với quỷ dữ. Những kẻ cầu tiến thì trách móc các nhà văn, cho rằng họ không quan tâm đến những vấn đề chính trị và giới trí thức nửa mùa thì chỉ coi truyện kinh dị là một thứ sách đọc thêm để rèn luyện phong cách viết văn… Thế nhưng số còn lại, dù là số ít, vẫn ủng hộ các nhà văn viết truyện kinh dị: đó là những kẻ hiếu kỳ, những người hay lo sợ, những kẻ nhiệt thành hăng hái, những kẻ không mang đầu óc thủ cựu… Nói tóm lại, đó là tất cả những ai muốn tìm kiếm một điều gì đó khác với những cái đã thấy trong đời thường. Thật tiếc khi người ta cho là yếu tố kinh dị gắn liền với sự điên rồ cuồng loạn hay những trò phù thủy.
Thực ra, kinh dị là một hiện thực được nhìn dưới một con mắt khác. Yếu tố kinh dị cho phép các nhà văn đề cập các vấn đề liên quan đến chúng ta, miêu tả bằng những từ ngữ cụ thể, những hình ảnh sinh động rút từ những chuyện xảy ra trong đời sống thường ngày: thời gian, định mệnh, thế giới bên kia, bộ mặt của Chúa Trời, sự cứu rỗi, tình yêu… Các nhà nghiên cứu thần học và triết học cũng đã đề cập đến các vấn đề này một cách sâu sát hơn nhưng tiếc thay, hiểu được họ chỉ có những người có trình độ nhận thức cao hoặc có đầu óc cao siêu như họ. Các nhà văn viết truyện kinh dị trái lại dùng những hình ảnh, những biểu tượng, những phép liên tưởng… đôi khi cũng hơi mạo hiểm, để làm cho mọi người hiểu được điều họ muốn nói.