Chương 1: Những cơ sở lí luận chung. Chương 2: Các khuynh hướng cảm hứng và con người cá nhân trong thơ văn Nôm Phạm Thái. Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện trong thơ văn Nôm Phạm Thái e 11 Chƣơng 1 NHỮNG CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 1. Thơ văn Nôm thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX 1.
Quá trình phát triển Một trong những đặc trưng cơ bản của văn học thời trung đại là tính song ngữ. Điều này không chỉ đúng với văn học trung đại Việt Nam mà còn đúng với văn học của nhiều nước trên thế giới. Tính song ngữ làm cho văn học trung đại trở nên phong phú, đa dạng, giàu có hơn nhưng đồng thời cũng nảy sinh hiện tượng bất bình đẳng giữa hai bộ phận văn học. Đối với văn học Việt Nam, hiện tượng bất bình đẳng này thể hiện rõ ở thái độ xem trọng văn chương viết bằng chữ Hán còn xem thường văn chương viết bằng chữ Nôm.
Truyện Kiều xứng tầm kiệt tác là thế, nhưng do áp lực của cả một thời đại “bất bình đẳng” đối với tình trạng song ngữ trong một nền văn học, khi kết thúc nó, Nguyễn Du đành phải viết “Lời quê chắp nhặt dông dài/ Mua vui cũng được một vài trống canh” còn Cao Bá Quát thì lâm vào băn khoăn, khó xử, khi nhận thấy Hoa Tiên và Kim Vân Kiều là những áng văn hay chưa từng có nhưng lại chưa dám lấy quốc ngữ làm văn chương… Tuy nhiên cả Nguyễn Du và Cao Bá Quát cũng như các tác gia khác, đặc biệt là các tác gia tiêu biểu như Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm trước đó, Nguyễn Văn Siêu, Phan Huy Chú, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ cùng thời, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tú Xương về sau… không hề coi thường việc sáng tác bằng chữ Nôm (tiếng Việt). Văn học chữ Nôm ra đời cùng với ý thức tự lập tự cường của dân tộc Việt. Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, văn học Nôm đã định hình và phát triển lớn mạnh song song cùng văn học chữ Hán. Từ những tác phẩm văn e 12 học bằng chữ Nôm đầu tiên của những tên tuổi như Nguyễn Thuyên, Trần Nhân Tông đến những đại diện tiêu biểu cuối cùng như Nguyễn Khuyến, Tú Xương… văn học Nôm đã đi được một chặng đường khá dài để trở nên toàn bích.
Kho tàng thư tịch về chữ Nôm và văn học chữ Nôm, hiện được lưu giữ tương đối đầy đủ nhất và phong phú nhất ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, với số lượng tác phẩm khoảng 1500 tên sách (trong đó sách viết toàn chữ Nôm khoảng 500 tác phẩm, sách chữ Hán diễn Nôm khoảng 200 tác phẩm, sách chữ Hán lẫn Nôm khoảng 800 tác phẩm), đó là chưa kể tới hàng vạn thác bản văn bia có chữ Nôm (trong đó văn bia toàn khắc chữ Nôm khoảng gần 200 đơn vị). Ở giai đoạn đầu tiên của văn học viết Việt Nam, từ thế kỷ X – XIV, đây là giai đoạn đi lên của giai cấp phong kiến, có vai trò tích cực đối với sự phát triển của dân tộc. Với ý thức làm chủ quốc gia trong sự phân biệt với phong kiến phương Bắc, giai cấp phong kiến mang tinh thần dân tộc, đại diện cho dân tộc trên mọi phương diện. Ở bình diện văn hóa, giai cấp phong kiến nhà Lý – Trần đã xây dựng cơ sở cho việc hình thành ngôn ngữ của dân tộc.
Chữ Nôm ra đời và bắt đầu có những sáng tác văn học. Những tác phẩm văn học Nôm đầu tiên đến nay vẫn còn là Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông. Ngoài ra, các bộ sử lớn của Việt Nam, như Đại Việt sử ký tiền biên (q.37) và Khâm định Việt sử thông giám cương mục (q.26) đều ghi: “Mùa thu tháng 8 năm Nhâm Ngọ niên hiệu Thiên Bảo thứ 4 (1282), có cá sấu đến sông Lô, Vua sai quan Thượng thư Bộ Hình là Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu tự bỏ đi. Vua cho việc ấy giống việc làm Hàn Dũ (đời nhà Đường) nên ban cho ông họ Hàn.
Thuyên giỏi thơ phú quốc ngữ, nhiều người bắt chước làm. Nay gọi thơ quốc âm là Hàn luật bắt đầu từ đây”. Rất tiếc bài văn của Nguyễn (Hàn) Thuyên đã bị thất truyền, còn tập thơ của ông là Phi sa tập cũng đã thất truyền, nhưng e 13 theo Phan Huy Chú ghi trong Lịch triều hiến chương loại chí (phần Văn tịch chí) thì “Tập này có nhiều thơ quốc âm”. Như vậy, theo các tư liệu lịch sử thì Nguyễn (Hàn) Thuyên là người giỏi về văn và thơ Nôm, rất tiếc các tác phẩm của ông hiện không còn.
Căn cứ vào ghi chép của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí thì Chu Văn An (?-1370) có Tiều ẩn quốc ngữ thi tập (đã bị thất truyền), sau này các nhà nghiên cứu cho rằng có thể trong tập thơ này có thơ chữ Nôm. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, q.44) thì Nguyễn Sĩ Cố (thế kỷ XIV) cũng giỏi làm văn thơ quốc âm, để cho mọi người theo và cũng theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, q.22) có chép việc Hồ Quí Ly (cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV) có làm thơ quốc âm để tặng vua Trần Nghệ Tông và dịch thiên Vô dật trong Kinh Thư ra quốc ngữ để dạy cho các quan gia (nhưng đều thất truyền). Theo Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử thì Hồ Tông Thốc (thế kỷ XIV) có soạn cuốn Phú học chỉ nam và Nguyễn Phi Khanh (1355-1428) cùng nhiều nho sĩ có làm bài phú Con ngựa lá. Đến thế kỷ XV, sau khi đánh đuổi được giặc Minh, giai cấp phong kiến tiến đến mức phát triển cực thịnh.
Cuộc kháng chiến giành được thắng lợi là vì dựa vào lực lượng nhân dân. Trong khí thế thắng lợi vang dội của tinh thần, ý thức dân tộc, giai đoạn này chứng kiến sự phát triển lớn mạnh của văn học chữ Hán lẫn chữ Nôm. Nguyễn Trãi đã có công lao to lớn trong việc đưa thơ văn Nôm phát triển mạnh mẽ với tập thơ Quốc âm thi tập bao gồm 254 bài thơ mang âm điệu, hồn cốt dân tộc. Bên cạnh đó, những tác gia trong hoàng tộc giai đoạn này cũng có vai trò rất lớn để đưa văn học Nôm lớn mạnh, đại diện tiêu biểu nhất là Lê Thánh Tông.
Với tác phẩm Hồng Đức quốc âm thi tập, Lê Thánh Tông và 28 vì tinh tú trong Tao đàn đã đem đến cho đời những tác phẩm thơ Nôm mang hơi thở của cuôc sống, tâm tình của người dân đất Việt. Ngoài ra còn có các tác phẩm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn chép e 14 trong Thiên Nam dư hạ tập tương truyền là của Lê Thánh Tông, Kim lăng ký và Phan Trần tương truyền là của Đỗ Cận (thế kỷ XV), Hồng Châu quốc ngữ thi tập của Lương Như Hộc (thế kỷ XV); rất tiếc, những tác phẩm này hầu hết đã thất truyền. Đến thế kỷ XVII, văn học Nôm tiếp tục chinh phục những đỉnh cao mới. Sự phát triển của văn học chữ Nôm về mọi mặt đã phản ánh sự thắng lợi vang dội của phong trào nhân dân chống phong kiến trên địa hạt văn chương.
Hàng loạt tác phẩm diễn ca lịch sử, ngâm khúc Nôm dài hơi được ra đời, cho thấy sự phát triển lớn mạnh của ngôn ngữ thơ ca dân tộc: Thiên Nam minh giám, Thiên Nam ngữ lục, Tứ thời khúc vịnh, Nghĩ hộ bát giáp thưởng đào văn… Đặc biệt, sự xuất hiện của Nguyễn Bỉnh Khiêm với Bạch Vân quốc ngữ thi đã khẳng định sự hiện diện vững chắc của thơ văn chữ Nôm bên cạnh thơ văn chữ Hán. Nhưng có lẽ văn học chữ Nôm thực sự tạo nên những giá trị đặc biệt là ở giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX. Ở giai đoạn này, những mâu thuẫn của chế độ phong kiến đã lên đến đỉnh điểm. Những cuộc tranh quyền đoạt lợi giữa giai cấp phong kiến diễn ra thường xuyên, nhân dân không chịu nổi áp bức đã vùng lên quyết liệt chống trả.
Những thắng lợi của quần chúng nhân dân trên mặt trận vũ trang đã lật đổ toàn diện các tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn. Những biến động lớn lao của lịch sử cùng với sự khẳng định sức mạnh của quần chúng nhân dân đã ảnh hưởng lớn trên lĩnh vực văn hóa, văn học. Chưa bao giờ ngôn ngữ dân tộc lại thăng hoa để hình thành nên những kiệt tác có giá trị bất hủ như ở giai đoạn này. Hàng loạt tác giả, tác phẩm thơ văn Nôm đặc sắc về nội dung, nổi bật về nghệ thuật đã hình thành như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ… Đến giai đoạn này, thơ văn Nôm đã có bước phát triển ngoạn mục để vượt lên trên thơ văn chữ Hán về mọi e 15 phương diện.
Thơ văn chữ Nôm vì sử dụng ngôn ngữ dân tộc nên có thể miêu tả một cách linh hoạt và cụ thể hơn văn học chữ Hán. Những nét phong phú, mỹ lệ của thiên nhiên, tính cách, tâm hồn, cuộc sống, suy nghĩ của con người Việt được thơ văn Nôm chuyển tải sâu sắc và ý nhị hơn cả. Đặc biệt, trong một giai đoạn mà ý thức, tinh thần của nhân dân lao động trỗi dậy một cách mạnh mẽ như cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX thì ngôn ngữ, tiếng nói của quần chúng nhân dân trở thành tiếng nói đại diện cho cả dân tộc. Điều này đã làm cho văn học chữ Nôm có tính dân tộc đậm đà hơn văn học chữ Hán.
Hơn nữa, văn học chữ Nôm vì chưa bao giờ có một địa vị chính thức trong đời sống chính trị và văn hóa nên chưa bao giờ được dùng để tạo nên những tác phẩm mang tính điển chế nhà nước hay những tác phẩm sử học, triết học, chính trị… Chính vì vậy tác phẩm Nôm tách rời tính học thuật. Văn học chữ Nôm chủ yếu bao gồm những tác phẩm thuần túy văn học. Điều này lý giải vì sao những tác phẩm văn học Nôm nói chung, văn học Nôm ở giai đoạn phát triển rực rỡ của nó, cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, nói riêng đã trở thành những kiệt tác vượt thời gian, tồn tại và phát triển lớn mạnh cùng văn hóa Việt trong suốt trường kỳ lịch sử. Đặc điểm nội dung tư tưởng Văn học chữ Nôm giai đoạn thế kỷ X – XIV phát triển với khuynh hướng gắn bó giữa đạo và đời trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của Phật giáo.