CHƯƠNG 1: NHÌN LẠI CHẶNG ĐẦU SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 1.1 Đôi nét về con người và sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 trong một gia đình nghèo tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Nguyễn Ngọc Tư có một tuổi thơ khá vất vả. Khi còn nhỏ chị vừa học vừa phải làm việc nhà, việc ruộng vườn giúp gia đình. Đến năm 15 tuổi, khi chị mới học hết lớp 9 thì gia đình gặp biến cố: Ông ngoại mất, kinh tế gia đình vô cùng khó khăn nên chị phải rời ghế nhà trường.
Tuy vậy, Nguyễn Ngọc Tư vẫn không hề nản lòng. Chị bắt đầu viết tại làng quê với sự động viên của người cha: “Nghĩ gì viết nấy, viết những gì con đã trải qua”. Và cũng chính cha của chị đã mang ba truyện đầu tay của chị gửi đến tạp chí Văn nghệ bán đảo Cà Mau và được chọn đăng. Sau đó chị được nhận vào làm văn thư và học làm phóng viên tại báo này.
Sau chuyến đi công tác trong cơn bão số năm tại Đất Mũi chị đã hoàn thành tập kí sự mang tên Nỗi niềm sau cơn bão dữ. Tác phẩm này đoạt giải ba Giải Báo chí toàn quốc năm 1997 và chắp cánh cho những mơ ước của chị. Nguyễn Ngọc Tư chính thức bước vào nghề văn với nhiều giải thưởng: Giải nhất văn học tuổi hai mươi do báo Tuổi trẻ tổ chức; giải B của Hội Nhà văn Việt Nam về truyện ngắn 2000 với tác phẩm Ngọn đèn không tắt; giải tác giả trẻ nhất của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Chị đã gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam, được đánh giá là một trong những nhà văn trẻ được chú ý ở Việt Nam hiện nay.
Chị lập gia đình với một thợ kim hoàn và hiện đang cùng chồng con cư ngụ tại thành phố Cà Mau, làm phóng viên cho tạp chí Văn nghệ bán đảo Cà Mau và Hội Văn học Nghệ thuật Cà Mau. 16 Trong bút kí của Trần Hữu Dũng - một Việt kiều tại Mỹ, tác giả đã nhận xét về Nguyễn Ngọc Tư “phong cách ngoan hiền nhưng kiên quyết, cuộc sống giản đơn nhưng thấp thoáng một nội tâm phức tạp và bí ẩn ”. Đó là trong đời thường còn trong văn chương, Nguyễn Ngọc Tư thường ví truyện của mình “như trái sầu riêng” – nhiều người thích nhưng cũng không ít người dị ứng. Mỗi trang văn của Nguyễn Ngọc Tư không đơn giản là một bức tranh để ngắm mà ở mỗi câu mỗi chữ đều ẩn chứa những tiếng lòng, tiếng thổn thức về cuộc sống của những số phận, những mảnh đời”.
* Các tác phẩm chính đã xuất bản: 1. Ngọn đèn không tắt (Tập truyện – NXB Trẻ - 2000) 2. Biển người mênh mông (Tập truyện – NXB Kim Đồng – 2003) 4. Nước chảy mây trôi (tập truyện và kí – NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh - 2004) 6.
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (tập truyện – NXB Văn hóa Sài Gòn – 2005) 7. Cánh đồng bất tận (Tập truyện - NXB Trẻ - 2005) 8. Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (NXB Trẻ - 2005) 9. Ngày mai của những ngày mai (Tạp văn – NXB Phụ nữ - 2007) 10.
Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện – NXB Trẻ - 2008) 11. Yêu người ngóng núi (Tản văn – Nhà xuất bản Trẻ - 2009). Khói trời lộng lẫy (tập truyện hay tạp văn? – Sài Gòn truyền thông và Nhà xuất bản Thờì đại – 2010). Gáy người thì lạnh (Tạp văn – Nhà xuất bản (tên ?) – 2012).
17 * Giải thưởng: 1. Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần II – Tác phẩm Ngọn đèn không tắt – 2000. Giải B Hội Nhà văn Việt Nam – tập truyện Ngọn đèn không tắt – 2000. Giải ba cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ với truyện Đau gì như thể.
Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ, Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Một trong mười gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2003 do Trung ương Đoàn trao tặng. Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2006, Tác phẩm Cánh đồng bất tận. Giải thưởng văn học các nước Đông Nam Á (ASEAN) 2008.
Thời gian gần đây tác phẩm Cánh đồng bất tận đã được chuyển thể thành phim và được công chúng nồng nhiệt đón nhận. Quan niệm văn chương và sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn nữ luôn có ý thức bộc lộ một cách thẳng thắn những quan niệm về văn chương và sáng tác của mình. Qua khảo sát, chúng tôi thấy có một số quan niệm độc đáo và nổi bật sau: 1. “Tôi viết như cảm xúc của mình” Cho dù viết về mảng nào, lĩnh vực nào thể loại nào thì với Nguyễn Ngọc Tư, điều quan trọng vẫn là cảm xúc.
Cảm xúc thật từ đời sống chỉ có được khi trực tiếp sống, thực sự hòa nhập với đời sống. Trong một bài phỏng vấn Nguyễn Ngọc Tư, người phỏng vấn đặt câu hỏi : “Các nhà văn hay nói về kĩ thuật viết. Chị có nghĩ mình cũng tạo “kĩ thuật “viết riêng” gây hấp dẫn bạn đọc”. Nguyễn Ngọc Tư thẳng thắn 18 trả lời: “… một trang viết chỉ có kĩ thuật thôi mà không có thế thái nhân tình, không hồn vía con người thì ai mà chịu đọc”.
Trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư “Sáng tác thì cứ lúc nào thấy xúc động, đủ cảm xúc, có suy nghĩ về cái mình trải qua, có nhu cầu phải viết, nếu không viết chắc…tự tử mất thì viết thôi”. Văn chương của Nguyễn Ngọc Tư dung dị mà không kém phần sâu sắc bởi nó được viết từ những cảm xúc thôi thúc tự trong lòng. Chị bộc bạch: “Bao giờ khi bắt tay vào viết, tôi cũng nghĩ thoáng qua tác phẩm mới này ai sẽ khen, và biết cả một vài khuôn mặt những người chê. Lần nào cũng nghĩ nhưng lần nào cũng viết như cảm xúc của mình bởi trước khi viết cho ai đó thì tôi viết cho mình”.
Ở một chỗ khác, chị tâm sự: “Trong văn chương, tôi thường không có kế hoạch gì, tùy vào cảm hứng”. “Tôi là đứa viết văn không chuyên, dựa vào cảm xúc mà viết”. Nhìn như vậy có thể thấy, trước sau Nguyễn Ngọc Tư vẫn coi trọng cảm xúc, lấy cảm xúc làm điểm tựa cho văn chương. Nói đến văn là nói đến cảm xúc.
Nguyễn Ngọc Tư cũng không ép mình viết khi không thực sự có cảm xúc. Chị mong muốn những trang văn chị dành tặng cho độc giả phải là những trang thấm đẫm cảm xúc của chính chị. Với Nguyễn Ngọc Tư, một truyện được viết ra là trút bỏ một cái gì đó từ cảm xúc của mình. Sau tác phẩm Cánh đồng bất tận nhiều ý kiến phản hồi thậm chí trái chiều, nhiều ý kiến phê phán gay gắt, nhưng Nguyễn Ngọc Tư vẫn bình tâm bởi với chị, điều quan trọng là chị đã viết những gì mà chị cảm nhận được.
Sau này số lượng tác phẩm có tăng lên, nội dung phong phú hơn, chị vẫn viết theo cảm xúc hồn nhiên của mình. Nguyễn Ngọc Tư cũng đã từng tâm sự, chị lấy cảm hứng từ cuộc sống và số phận của những nhân vật nhỏ bé, những người nông dân nghèo, lam lũ, những người nghệ sĩ nghèo khổ bất hạnh, những đứa trẻ đáng 19 thương, những người đàn bà tội nghiệp…ở chính vùng quê Nam Bộ của chị. Chính những tình cảm, số phận trớ trêu của họ đã tạo cảm xúc cho Nguyễn Ngọc Tư sáng tác. Chị cũng tâm sự “Chưa có bao giờ má dạy tôi viết văn nhưng những gì mà tôi viết ra đều mang hơi thở cuộc sống mà má trao tặng”.
Những con người, những kỷ niệm, cuộc sống Nam Bộ với biết bao lam lũ, vất vả nhưng cũng vô cùng thú vị đã nuôi dưỡng tâm hồn, vun đắp tài năng, vốn sống và khơi nguồn cảm hứng dồi dào cho sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Chính nhờ vậy, trang viết của Nguyễn Ngọc Tư đậm chất Nam Bộ, làm xúc động bao trái tim độc giả, đủ sức đánh thức những kỷ niệm về Nam Bộ của những người xa quê. Đúng như Trần Hữu Dũng nhận xét “ Trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta ở khắp mọi phương trời tìm lại được cái quê hương đích thực trong tâm tưởng, những tình tự ngủ quên trong lòng mình, những kỷ niệm mà mình tưởng như không ai chia sẻ”. Không phải ngẫu nhiên mà những năm gần đây Nguyễn Ngọc Tư thấy hứng thú và gửi gắm cảm xúc của mình vào thể loại tản văn, tạp văn.
Trong quan niệm của chị “… viết tản văn như một kiểu nhật kí để người viết gửi gắm những điều mình nghĩ. Bằng cách này em gửi gắm được nhiều thông điệp, giải tỏa những cảm xúc đầy ứ trong lòng, mà truyện ngắn không làm được. Truyện của em toàn ảo, không gian và người ảo, không có hoặc rất ít Nguyễn Ngọc Tư ở đó. Em cho rằng tản văn gần với người viết nhất, bộc lộ tâm tư tình cảm của người viết nhiều nhất” (52).
Cũng vì những cảm xúc ấy mà Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra một không gian đồng quê êm ả nhưng cũng nhiều đổi thay của nông thôn thời đô thị hóa trong Yêu người ngóng núi; những câu chuyện đời trong Gáy người thì lạnh: “Một cuốn sách thì cả khi chìa gáy ra, người ta cũng nhận được một cái gì đó ấm áp, trao gửi”. 20 Chính vì thế, Nguyễn Ngọc Tư thực sự thích thú và tâm đắc với thể loại tản văn bởi nó truyền tải được những cảm xúc của chị. “Có thể tôi viết truyện là dành cho ai đó nhưng viết tản văn là viết cho mình. Tản văn như là một giải pháp để tôi giải tỏa những suy nghĩ…” Những nhà văn thế hệ trước Nguyễn Ngọc Tư như Sơn Nam, Đoàn Giỏi cũng lấy bối cảnh từ mảnh đất Nam Bộ thân yêu nhưng họ thường nhìn nhận cảnh vật con người dưới góc độ văn hóa.
Trong khi đó trang văn của Nguyễn Ngọc Tư lại đi sâu vào hoàn cảnh, tâm trạng, những cảm xúc chân thực của những người dân vùng đất này. Chính quan niệm “viết như cảm xúc của mình” thấm nhuần trong ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư khiến trang viết của chị giản dị, tự nhiên, đầy ắp cảm xúc. Dường như với Nguyễn Ngọc Tư, viết văn trước hết là viết cho mình, viết để giải tỏa những điều chất chứa trong lòng mình. Khởi nguồn từ những tình cảm chân chất, văn chương Nguyễn Ngọc Tư do vậy đã đến được và tạo được sự xúc động sâu xa trong lòng người đọc.