ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây nho (Vitis vinifera L.) thuộc chi Vitis, họ Ampelidaceae [3]. Nho là loại cây lâu năm, có nguồn gốc ở các miền ôn đới khô Âu Á (Acmeni - Iran). Nho là một trong những cây ăn quả có giá trị kinh tế cao của nhiều nước trên thế giới.
Theo thống kê của FAO (2019) [22], tổng diện tích trồng nho trên thế giới hiện có khoảng 6,93 triệu ha với tổng sản lượng đạt 74,28 triệu tấn. Cho đến nay, cây nho đã được trồng trên cả 5 châu lục, ở những vùng có điều kiện khí hậu phù hợp. Đối với vùng có khí hậu ôn đới, cây nho chỉ cho thu hoạch mỗi năm một vụ, trong khi ở những nước có khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới cây nho có khả năng sinh trưởng liên tục và cho thu hoạch 2,5 - 3 vụ trên năm, mỗi vụ có năng suất bình quân từ 12 - 15 tấn/ha. Vì vậy, cây nho được đánh giá là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế rất cao.
Quả nho có giá trị thành phần dinh dưỡng khá cao, trong 100g phần ăn được có khoảng 0,5 g protein; 9 mg canxi; 0,6 mg sắt; 50 đơn vị quốc tế vitamin A; 0,10 mg vitamin B1; 4 mg vitamin C (Vũ Công Hậu, 2001) [6]. Ngoài ra, quả nho còn chứa một hàm lượng lớn chất polyphenol, là chất có tác dụng làm giảm bệnh nhồi máu cơ tim, tăng cường miễn dịch, chữa cao huyết áp, chống lão hóa… Ở nước ta hiện nay, cây nho trồng được từ Bắc tới Nam. Vùng trồng nho chủ yếu ở Ninh Thuận (tập chung khoảng 90%), đây là vùng có đặc điểm khí hậu, điều kiện thổ nhưỡng rất đặc thù, phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của loài cây này (Nguyễn Trần Hà My, 2016) [9]. Ở Việt Nam, nghề trồng nho đem lại hiệu quả kinh tế cao, mang lại nguồn thu nhập đáng kể, cải thiện đời sống cho người sản xuất.
Ninh Thuận là tỉnh có diện tích trồng nho chiếm 90% tổng diện tích trồng nho của Việt Nam, mỗi năm thu 2 vụ và năng suất trung bình 15 – 20 tấn/năm, lợi h 8 nhuận thu được khoảng trên 100 triệu đồng/ha/năm, trong khi đó cây lúa với 3 vụ/năm chỉ thu được khoảng 17 - 19 triệu đồng/ha/năm, giải quyết việc làm tại chỗ và có thu nhập ổn định cho hàng trăm ngàn lao động nông thôn chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận, Bắc Bình Thuận và một số ít ở phía Nam tỉnh Khánh Hòa [23]. Ở các tỉnh phía Bắc, cây nho được trồng rải rác trong các vườn gia đình, vừa với mục đích làm cây che bóng vừa sử dụng sản phẩm quả. Một số tỉnh có diện tích nho được trồng nhiều hơn với các giống trồng đa dạng hơn là Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Sơn La, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Nội. Bên cạnh đó, nghề trồng nho ở nước ta còn tồn tại một số vấn đề khó khăn nhất định trong sản xuất, liên quan đến các yếu tố về giống, điều kiện sinh thái từng vùng, trình độ kỹ thuật canh tác; một số giống nho hiện nay cho chất lượng quả chưa cao, nhiều hạt, quả nhỏ, chùm bé, giá trị thực phẩm thấp.
Trong những năm qua, công tác nghiên cứu tuyển chọn các giống nho phù hợp với điều kiện sinh thái vùng trồng, cho năng suất, chất lượng cao được đẩy mạnh. Do vậy nhập nội và thuần hóa giống là một trong các hướng đi nhằm nhanh chóng tuyển chọn được một số giống nho phù hợp cho điều kiện sinh thái vùng trồng (Vũ Mạnh Hải, 1988) [5]. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá đặc điểm nông sinh học giống nho nhập nội tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đánh giá khả năng sinh trưởng của giống nho nhập nội Cự Phong trong điều kiện được trồng tại Thái Nguyên.
Yêu cầu của đề tài Nghiên cứu đặc điểm hình thái giống nho Cự Phong. Nghiên cứu tình hình sinh trưởng các đợt lộc của giống nho Cự Phong. Nghiên cứu, đánh giá tình hình sâu và bệnh hại trên giống nho Cự Phong. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu tiếp theo về cây nho tại Thái Nguyên, là tư liệu, nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, đào tạo trong và ngoài nhà trường. Rèn luyện và nâng cao khả năng thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cho sinh viên, là một cơ sở và tiêu chí cho việc đánh giá chất lượng sinh viên của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Bước đầu đưa ra được các đánh giá về khả năng sinh trưởng và phát triển của giống nho nghiên cứu khi trồng tại Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng phát triển năng suất và chất lượng giống nho nhập nội.
h 10 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Tất cả các loại cây trồng nói chung và cây nho nói riêng đều chịu tác động và ảnh hưởng bởi các nhân tố sinh thái. Khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng phản ánh mức độ biểu hiện của cây trồng đó với các yếu tố tác động và ảnh hưởng tới nó thông qua năng suất và chất lượng sản phẩm cây tạo ra. Tùy vào từng môi trường cụ thể, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố là nhiều hay ít mà cây trồng sẽ có sự thích nghi tương ứng.
Do đó, việc theo dõi khả năng sinh trưởng và phát triển của giống nho thí nghiệm là rất cần thiết. Qua đó đánh giá được khả năng thích nghi của giống nho nhập nội. Nguồn gốc và phân bố của cây nho * Nguồn gốc Cây nho ( Vitis vinfera L.) có nguồn gốc ở vùng tiểu Á, nằm giữa và phía Nam vùng giữa biển Đen và biển Caspin, từ loài này tất cả các giống nho được trồng trọt tạo ra trước khi có sự khám phá ra vùng Bắc Mỹ. Vào khoảng những năm 600 trước công nguyên, cây nho được di thực tới Hi Lạp, Italia và vùng phía Nam của của nước Pháp.
Vào khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên, người Hi Lạp đã mang nho tới trồng tại Đức, cây nho đã được đưa tới vùng tân thế giới cùng với những đoàn thám hiểm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Cây nho được đưa đến trồng ở Ấn Độ vào khoảng thời gian năm 1.300 sau công nguyên; vào năm 1958, cây nho được đưa đến trồng ở Philippine (Cornel,1998) [14]. Theo Shanmugavelu (1989) [20], cây nho đã có mặt ở Ấn Độ từ thế kỷ XI trước công nguyên, nhưng rất lâu không được biết đến, cho đến khi có những người theo đạo hồi từ Afganistan đến xâm lược. Cây nho được du nhập vào Việt Nam năm 1960 và được trồng tại Trung tâm Nha Hố, nguồn nhập từ các nước Thái Lan, Nam Triều Tiên, Mỹ và Trung Quốc.
Ở h 11 Việt Nam, cây nho có nguồn gốc ở các Miền ôn đới khô Âu Á (Acmeni - Iran) (Vũ Công Hậu, 2011) [6]. *Phân bố - Về các vùng phân bố: 1. Vùng Trung Á và Địa Trung Hải: chỉ có 1 loài Vitis vinifera. Vùng Bắc Mỹ: có 29 loài khác nhau.
Vùng Caribe: chỉ có một loài Vitis indica. - Về các loài khác: 1. Các loài vùng châu Á: có 11 loài khác nhau. Chi phụ Muscadinia: có 3 loài là M.
Hơn 90% tổng sản lượng nho trên thế giới là thuộc loài Vitis vinifera hoặc từ các loài nho Mỹ. Một số loài nho Mỹ được trồng thu quả là V. Toàn bộ vùng nho châu Âu và các vùng trồng nho quan trọng khác được sản xuất hoặc từ các giống nho thuần của loài Vitis vinifera hoặc là giống lai từ một giống của loài Vitis vinifera và một loài nho địa phương của Mỹ, đặc biệt là loài V. Theo Coronel (1998) [14], chi Vitis có khoảng 50 loài được ghi nhận ở những vùng nhiệt đới và ôn đới.
Ba loài có giá trị quan trọng là V.rotundifolia Michx và V.vinifera Linne, trong đó loài V.vinifera có ý nghĩa kinh tế nhất. Theo Chadha và Shikhamany (1999) [15], chi Vitis có khoảng 60 loài khác nhau. Hầu hết các loài này có nguồn gốc từ phía Bắc bán cầu. Có một số loài có nguồn gốc từ châu Á.
Một số giống thuộc 2 loài Vitis cognetias và Vitis thumbergi có nguồn gốc từ châu Á được trồng ở một số vùng của Nhật Bản. Trong chi phụ Euvitis, loài có giá trị quan trọng nhất là Vitis vinifera Linne; hơn 90 % các giống h 12 nho trổng đều thuộc loài này. Loài quan trọng tiếp theo là Vitis labrasca Linne. Ngoài ra, một số ít các giống nho trong thuộc các loài như Vitis aestivalis Michaux, Vitis berlandieri Planchon, Vitis california Bentham hay một số loài nhọ khác.
Như vậy, có thể thấy rằng phần lớn các giống nho trồng trên thế giới ngày nay là thuộc loài Vitis vinifera, chi phụ Euvitis hoặc là một giống lai giữa loài Vitis vinifera với một loài nho địa phương của Mỹ mà chủ yếu là loài V. *Phân loại Cây nho có tên khoa học là: Vitis vinifera L. Thuộc nhóm: Spermtophyta Ngành: Tracheophyta Ngành phụ: Pteropsida Lớp: Angiosperm Lớp phụ: Dicotyledonease Bộ: Ramnales Họ: Ampelidaceae (hay còn gọi là Vitaceae) Chi: Vitis Cây nho bao gồm 12 chi và khoảng 600 loài được phân bố rộng rãi ở các nước ôn đới. Trong đó, chi có giá trị kinh tế quan trọng và là chi duy nhất có các giống nho trồng là Vitis.
Chi Vitis được chia thành 2 chi phụ là Muscadinia và Euvitis. Các loài trong chi phụ Muscadinia có 40 nhiễm sắc thể, trong khi đó, các loài trong chi phụ Euvitis chỉ có 28 nhiễm sắc thể. Các loài trong chi phụ Muscadinia rất dễ được nhận biết thông qua một số đặc điểm như vỏ cây liên kết rất chặt, không tróc vỏ, tua cuốn không phân nhánh, các đốt thân liên tục, chùm quả nhỏ và quả bị rụng khi chín. Ngược lại, các loài thuộc chi Euvitis thì có đặc điểm tróc vỏ thân, tua cuốn phân nhánh, các đốt trên thân được phân biệt rõ, chùm quả h 13 lớn và quả trên chùm không tự rụng khi chín (Chadha và Shikhamany 1999) [15].
Đặc điểm thực vật học của cây nho. Đặc điểm của rễ nho Rễ nho thuộc loại rễ chùm, trải rộng trên diện tích quanh gốc vùng tán cây. Rễ tập trung chủ yếu ở tầng 0 - 30 cm, phần rất ít ở tầng dưới 60cm. Rễ nho gồm hai loại là rễ thường xuyên (rễ già) và rễ non mới ra.
Rễ thường xuyên được tạo thành với vai trò là bộ phận nâng đỡ và từ đó cho ra hệ thống rễ non.