ĐẶT VẤN ĐỀ Đất nước và con người có quan hệ mật thiết với nhau. Trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, bạt núi, ngăn sông, khai phá đất hoang, tin tưởng ở trí thông minh và sức lực của mình, tổ tiên ta gồm tất cả các dân tộc trên cả nước đã mở mang đất nước. Cấu tạo địa lý tự nhiên của từng vùng miền cũng khác nhau rất nhiều. Điều này cũng làm cho ca dao dân ca của từng vùng miền cũng có những riêng biệt.
Ở miền Bắc nước ta đường núi quanh co, hiểm trở, có nơi cao ngất nên tổ tiên ta đã cho rằng Hà Giang có lối lên trời và gọi là Cổng Trời: Đường đi quanh quẩn ruột dê Chim kêu vượn hót dựa kề bên non. Rồi rừng lại rừng, suối lại suối, vách đá cheo leo, cỏ cây mọc um tùm: Đường lên Mường Lễ bao xa? Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh. 13 Nói đến những nơi hiểm yếu và đẹp thì ở Lạng Sơn có bầu Chi Lăng nằm lọt vào giữa hai dãy núi có chỗ phình ra như bầu rượu, lại có đoạn thắt lại như cổ bầu. Chính nơi hiểm yếu này, Trần Hưng Đạo và Lê Lợi đã hai lần tiêu diệt giặc ngoại xâm.
Lạng Sơn còn có những phong cảnh rất đẹp: Đường lên xứ Lạng bao xa? Cách một trái núi với ba quãng đồng Ai ơi, đứng lại mà trông Kìa núi Thành lạng, kìa sông Tam Cờ. Hà Nội, kinh đô xưa của nước ta được coi là một đô thành không những đẹp mà còn là một nơi tích tụ những cái thiêng liêng nhất của đất nước: Thăng Long, Hà Nội, đô thành. Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ. Từ miền Bắc muốn vô miền Trung phải đi qua đèo Ngang hùng vĩ, đèo Ngang nối hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình: Đèo Ngang nặng gánh hai vai, Một vai Hà Tĩnh , một vai Quảng Bình Đất Hoan Châu xưa với phong cảnh xanh tươi: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biết như tranh họa đồ.
Cùng một tâm tình, cùng một ý nghĩ đối với đất nước, nhân dân ta thấy nơi nào trên đất nước cũng đẹp. Đến đất Thừa Thiên- Huế thì nghe câu hát: Đông ba, Gia Hội , hai cầu, Có chùa Diệu Đế bốn lầu hai chuông. Trên đường di cư, tổ tiên ta đã không quản gian nguy, vượt biển, băng rừng, trèo đèo, lội suối vào Nam khai phá đất hoang, làm ruộng, trồng cây ăn trái: 14 Đi bộ thì khiếp Hải Vân Đi thuyền thì khiếp sóng Thần, hang Giơi. Hải vân xưa nay vẫn được coi là một cảnh thiên nhiên hùng vĩ của nước ta.
Vì ở gần biển nên đèo Hải Vân càng thêm chót vót. Qua đèo hải Vân thấy mây bay ở đỉnh núi: Hải vân bát ngát nghìn trùng. Hòn Hồng ở đấy là trong Vịnh Hàn. Xưa nay qua đấy còn truyền, Lối đi lô giản thẳng miền ra khơi.
Thời xưa đi đường thủy phải qua cửa Thần Phù, ở đó thường có sóng rất to, thuyền tốt, lái giỏi đến đâu người ta cũng không tin mà chỉ tin ở số mệnh nên đã có câu: Lênh đênh qua cửa Thần Phù Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm. Về đèo , về dốc hiểm trở, ở Quảng Nam có câu: Đèo mô cao bằng đèo Cây Cốc, Dốc mô ngược bằng dốc Phú Trường? Núi non Quảng Ngãi với những thắng cảnh kỳ thú: Sông Trà sát núi Long Đầu Nước kia chảy mãi, rồng chầu ngày xưa Núi Long Đầu lưu danh hậu thế Chùa Thiên Ấn ấn để hậu hoàng Ai về xứ Quảng cho nàng về theo Bình Định lại nổi tiếng về dừa. Dừa Tam Quan lại rất sai quả. Dừa nhiều vô kể nên ca dao Bình Định có câu: Công đâu công uổng công thừa, Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan.
15 Đất Phú Yên cũng đèo cao, dốc ngược: Đèo nào cao bằng đèo Phú Cốc Dốc nào ngược bằng dốc Xuân Đài Đèo cao, dốc ngược, đường dài Anh còn qua đặng huống chi vài lạch sông Nam Bộ sông nước mênh mông, không có núi, đèo như miền Bắc và miền Trung cho nên ca dao dân ca của miền Nam cũng không gập ghềnh, trúc trắc: Nước Cửu long sóng dồi cuồn cuộn; Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm xuôi. Đất miền Nam là vùng đất của dân khắp nơi trên cả nước đến sinh sống: Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Đồng nai. Nước sông trong sao lại chảy hoài, Thương người xa xứ lạc loài tới đây. Từ Bắc đến Nam, dân tộc ta đã từ thuở xa xưa, cùng chung một tiếng nói, một nền văn hóa, một lịch sử đấu tranh xây dựng đất nước, một lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, một nền kinh tế ngày càng phát triển do đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó của nhân dân từ thế hệ này qua thế hệ khác đã làm cho đất nước ngày càng tươi đẹp.
Rõ ràng thiên nhiên trong văn học nói chung, trong ca dao dân ca nói riêng, các yếu tố địa danh, các cách biểu đạt. tất cả đều mang hình bóng của con người với tư cách là chủ thể của từng vùng đất. Cho nên nói đến ngôn ngữ là nói đến con người. ĐẶC ĐIỂM CA DAO DÂN CA Giữa ca dao và dân ca, ranh giới không rõ.
Ca dao là thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một nhạc điệu nhất định. Ở ca dao có bài đã thành khúc điệu và có bài chưa thành khúc điệu. Người ta còn gọi ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi thời. Dân ca là những bài hát lưu truyền trong dân gian.
Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, thường là không rõ tác giả. Dân ca Việt Nam rất phong phú, dân ca xuất hiện ở từng địa phương hay ở từng nghề: có loại hiện nay chỉ ở địa phương nơi nó xuất hiện mới thấy người hát nhưng cũng có loại đã lan đến nhiều địa phương khác, mà có khi ở những nơi khác này lại có nhiều người hát hơn ở nơi nó xuất hiện; nó đã biến thành dân ca của cả miền. Nếu xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, trong những nghề nhất định, hay ở những địa phương nhất định. Ví dụ hát giao duyên, hát ru em, hát giã gạo, hát đò đưa, hát phường vải,.
Tuy vậy, xét về bản chất, ca dao và dân ca không khác nhau mấy. Thực tế chúng ta đã thấy có một số ca dao được hát lên theo những điệu hát nhất định như hát ví, ngâm, kể vè,. Toàn bài vẫn giữ nguyên số câu, số chữ, không thêm bớt. Nhiều bài ca dao vẫn giữ nguyên nội dung, khi xây dựng thành dân ca chỉ thêm vào những tiếng đệm lót và đệm nghĩa, tiếng đưa hơi, tiếng láy và điệp khúc; có như vậy, mới phổ được vào nhạc.
Ví dụ mấy câu ca dao sau đây khích lệ chí làm trai: Làm trai quyết chí tu thân, Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo. Khi nên, trời giúp công cho, Làm trai nên liệu bảy lo mới hào. 17 Khi xây dựng bài ca dao trên thành bài ca, người ta thêm vào những tiếng đệm, tiếng láy theo yêu cầu cả điệu hát. Ví dụ “ hát cách” thì bài trên hát như sau: Quyết chí mà tu thân ơ, Công danh là danh chớ vội chứ đã nợ nần.mà không lo.
Ở mấy câu trên , “ mà, ớ, chứ đã ” là những tiếng đệm; “ là danh” là tiếng láy. Hay những câu ca dao sau đây : Trống cơm khéo vỗ nên vông , Một bầy con sít lội sông đi tìm. Thương ai con mắt lim dim, Một bầy con nhện đi tìm giăng tơ. Thương ai duyên nợ tang bồng.
Muốn cho bài ca dao trên này thành khúc điệu của hát quan họ Bắc Ninh, phải thêm vào như sau : ( Tình bằng ) có cái trống cơm, khen ai khéo vỗ ( ấy mấy ) vông nên vông ( ấy mấy ) vông nên vông, Một bầy ( tang tình ) con sít lội lội lội sông ( ấy mấy ) đi tìm. Em nhớ thương ai đôi con mắt ( ấy mấy ) lim dim. Em nhớ thương ai, duyên nợ khách tang bồng. Ở những câu trên này, “ tình bằng, tang tình, ấy mấy” là những tiếng đệm lót; “ có cái, khen ai, em nhớ, khách” là những tiếng đệm nghĩa; những tiếng “ vông nên vông, lội lội” là tiếng láy; còn “ i ới a ” là tiếng đưa hơi.
NGÔN NGỮ CA DAO DÂN CA Được thử thách qua không gian, thời gian và lòng người, được gọt dũa bởi hàng vạn nhà thơ dân gian vô danh, ngôn ngữ ca dao dân ca đã trở nên những viên ngọc quý óng ánh trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc. Có thể nói, ngôn ngữ ca dao dân ca đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của tiếng Việt: Nó có cả những đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học mà cụ thể là ngôn ngữ thơ, đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại là một loại ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ. Bởi vậy, ở ca dao dân ca, chúng ta bắt gặp những cách nói trau chuốt, mượt mà, ý nhị đầy chất thơ, chẳng hạn: Đến đây mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì đào xin thưa: Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào. Và chúng ta còn gặp cả những lời “ đao to búa lớn” đầy sức mạnh, đầy tính chất khẩu ngữ: Chuột chù chê cú rằng hôi Cú lại trả lời: - Cả họ mày thơm? Hay: Chồng gì anh, vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đời chi đây.
Chính sự kết hợp giữa ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại với ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ gọt dũa đã tạo nên những đặc điểm riêng biệt độc đáo của ngôn ngữ ca dao dân ca. 19 Nói gọn lại, ngôn ngữ của ca dao dân ca là ngôn ngữ của đời sống trong sinh hoạt hằng ngày được chắt lọc. Tuy không quá gọt dũa trau chuốt nhưng là kết quả của một sự lựa chọn xuất phát từ mục đích giao tiếp thi ca. Ngôn ngữ ca dao dân ca không những là tiếng nói của cộng đồng thời hiện đại mà còn lưu giữ nhiều yếu tố của quá khứ và chắc chắn sẽ còn tồn tại dài lâu trong tương lai.
Do bảo lưu được cái cũ, nên có thể nói ngôn ngữ ca dao dân ca còn thể hiện cách ứng xử, cách suy nghĩ của người xưng. Một số bình diện cụ thể Ngôn ngữ ca dao dân ca có những đặc điểm “ thơ ” nhất của ngôn ngữ thơ Việt Nam.