Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi thủy cầm giữ vai trò chiến lược trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tính đến tháng 6 năm 2022, Việt Nam là quốc gia có tổng đàn thủy cầm lớn thứ hai thế giới với quy mô vượt 103,2 triệu con; trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 28,93% và đồng bằng sông Cửu Long chiếm 28,07%. Để duy trì tốc độ phát triển và đáp ứng yêu cầu thị trường, việc nhập nội nguồn gen quý kết hợp khai thác các giống nội địa thích ứng biến đổi khí hậu là giải pháp kỹ thuật then chốt.
Giống vịt Biển (vịt Biển 15 – Đại Xuyên) được chọn tạo trong nước có đặc tính kiêm dụng, năng suất trứng đạt 245,31 quả/mái/52 tuần đẻ, tiêu tốn thức ăn 3,47 kg/10 quả trứng, tỷ lệ phôi đạt 94,23% và có khả năng thích nghi tốt trong môi trường nước ngọt, lợ và mặn (độ mặn từ 11 đến 20‰). Trong khi đó, giống vịt Huba nhập nội từ Viện KÁTKI (Hungary) là nguồn gen hoang dã lông màu cánh sẻ, thịt thơm ngon, ít mỡ, năng suất trứng đạt 207,16 – 217,71 quả/mái/52 tuần đẻ và tỷ lệ trứng có phôi trên 93,33%. Nhằm kết hợp các đặc tính ưu việt của hai nguồn gen, đề tài khóa luận tập trung nghiên cứu tổ hợp lai giữa vịt Biển và vịt Huba để khai thác ưu thế lai, phục vụ sản xuất tại vùng đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của con lai giữa vịt Biển và vịt Huba tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định các đặc điểm ngoại hình (màu lông, mỏ, chân, hình dáng) và kích thước một số chiều đo cơ thể ở thời điểm 56 ngày tuổi của con lai.
- Theo dõi và đánh giá các chỉ tiêu sinh sản của con lai: tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn, động thái tăng khối lượng cơ thể, tuổi đẻ, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng, một số chỉ tiêu chất lượng trứng và tỷ lệ ấp nở.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Con lai F1 giữa vịt Biển và vịt Huba gồm hai công thức lai: vịt BH (trống Biển x mái Huba) và vịt HB (trống Huba x mái Biển), theo dõi từ 01 ngày tuổi đến kết thúc 20 tuần đẻ.
- Địa điểm: Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên.
- Thời gian: Từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2022 (kết hợp khai thác chuỗi số liệu thứ cấp của thí nghiệm tại Trung tâm).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng quy luật di truyền Mendel và lý thuyết lai kinh tế đơn giản trong chăn nuôi gia cầm nhằm khai thác hiện tượng ưu thế lai (heterosis) ở đời con F1. Cơ sở di truyền học của ưu thế lai được luận giải qua ba giả thuyết chính: thuyết tập trung gen trội có lợi, thuyết dị hợp tử và siêu trội ($Aa > AA > aa$), và thuyết gia tăng tác động tương hỗ giữa các locus không tương đồng. Công thức xác định mức độ ưu thế lai ($H%$) dựa trên giá trị kiểu hình trung bình của con lai so với trung bình của hai giống bố mẹ theo Đặng Vũ Bình (2002).
Nghiên cứu ứng dụng các nguyên lý sinh học gia cầm: mối liên hệ giữa sắc tố lipocrom nhóm carotenoit với màu sắc ngoại hình; hình thái cơ thể tạo góc 45 độ so với mặt đất đặc trưng cho nhóm vịt kiêm dụng; chiều dài lông cánh đạt từ 12 cm trở lên là chỉ thị sinh học đạt độ tuổi giết thịt; tuổi thành thục sinh dục xác định khi đàn đạt tỷ lệ đẻ 5%; bản chất của các chỉ tiêu sinh sản (tỷ lệ nuôi sống có hệ số di truyền thấp $h^2 = 0,06 - 0,13$, tỷ lệ ấp nở $h^2 = 0,15$) phụ thuộc chặt chẽ vào quy trình nuôi dưỡng và điều kiện tiểu khí hậu.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Bố trí thí nghiệm: Ghép đôi giao phối chéo theo hai công thức lai thuận nghịch:
- Công thức 1: ♂ Vịt Biển x ♀ Vịt Huba $\rightarrow$ Vịt BH.
- Công thức 2: ♂ Vịt Huba x ♀ Vịt Biển $\rightarrow$ Vịt HB.
- Quy mô mẫu: Khảo sát ban đầu trên 1.000 con vịt 01 ngày tuổi (mỗi nhóm lai 500 con gồm 100 trống và 400 mái); chọn lọc chuyển sang giai đoạn hậu bị với 660 con (mỗi nhóm 60 trống và 270 mái); bước vào giai đoạn sinh sản theo dõi trên 576 con (mỗi nhóm 48 trống và 240 mái).
- Quy trình kỹ thuật và chăm sóc: Áp dụng theo TCVN 2018, tài liệu hướng dẫn của Bùi Hữu Đoàn (2011) và quy trình chăn nuôi an toàn sinh học của Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên.
Bảng thành phần dinh dưỡng khẩu phần thí nghiệm qua các giai đoạn:
| Chỉ tiêu dinh dưỡng |
Giai đoạn 1 nt – 8 tuần tuổi |
Giai đoạn 9 – 20 tuần tuổi |
Giai đoạn > 20 tuần tuổi |
| Protein thô (%) |
20 – 21 |
14 – 14,5 |
17 – 17,5 |
| Năng lượng trao đổi ME (kcal/kg) |
2850 – 2900 |
2850 – 2900 |
2650 – 2700 |
| Xơ thô (%) |
8,0 |
8,0 |
8,0 |
| Canxi - Ca (%) |
0,8 – 1,5 |
0,8 – 1,5 |
2,5 – 4,0 |
| Photpho - P (%) |
0,5 – 0,9 |
0,5 – 0,9 |
0,5 – 0,8 |
| Lysine (%) |
1,3 |
0,8 |
1,0 |
| Methionine + Lysine (%) |
0,8 |
0,6 |
0,7 |
- Phương pháp thu thập và thiết bị đo đạc:
- Đo kích thước cơ thể lúc 56 ngày tuổi ($N=30$ mỗi nhóm, tỷ lệ đực cái 1:1) bằng thước dây, compa và thước thẳng.
- Cân khối lượng định kỳ vào buổi sáng trước khi ăn bằng cân điện tử kỹ thuật có các mức chính xác $\pm 0,5$ g, $\pm 5$ g, $\pm 10$ g và $\pm 0,05$ g.
- Chất lượng trứng khảo sát ở 38 tuần tuổi ($N=30$ quả/lô) sử dụng cân điện tử ($\pm 0,01$ g), thước kẹp đo độ dày vỏ ($\pm 0,01$ mm), đồng hồ đo đơn vị Haugh và quạt so màu lòng đỏ Roche (thang điểm 1-15).
- Chỉ tiêu ấp nở tính theo tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp và tỷ lệ vịt loại 1.
- Xử lý số liệu: Sử dụng các thuật toán thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel 2016 và Minitab 16 để tính giá trị trung bình (Mean) và sai số chuẩn (SE).
Nội dung chính theo từng chương
Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các cơ sở lý luận về kỹ thuật lai tạo giống và bản chất của ưu thế lai trong chăn nuôi gia cầm, phân tích các hình thức lai kinh tế đơn, lai kép và phản giao. Tác giả dẫn chứng nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về lai chéo các dòng vịt như vịt Tsaiya thụ tinh nhân tạo với ngan (Poivey et al., 2001), con lai giữa ngan và vịt Bắc Kinh A-44 (Kazimierz Wawro et al., 2004), con lai giữa ngan và vịt Kaiya (Huang et al., 2006).
Tại Việt Nam, tổng quan phản ánh các kết quả lai tạo giữa vịt Triết Giang với vịt Cỏ, vịt Đốm với Super M2, vịt Sín Chéng với Super M3, và các tổ hợp lai giữa vịt Biển với vịt Trời. Đặc biệt, tác giả trình bày số liệu cơ sở về hai giống gốc: vịt Biển 15 – Đại Xuyên có khả năng thích nghi môi trường mặn, đẻ 248,63 quả/mái/52 tuần khi nuôi ở độ mặn 11-20‰ (Vương Thị Lan Anh, 2020); vịt Huba thuần chủng qua hai thế hệ nuôi tại Đại Xuyên có khối lượng lúc 24 tuần tuổi đạt 2497,25 – 2501,40 g ở con trống và 2348,00 – 2353,45 g ở con mái, tuổi đẻ bói 24-25 tuần, năng suất trứng 207,16 – 217,71 quả/mái/52 tuần (Đào Anh Tiến, 2022).
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết quy cách bố trí thí nghiệm, công thức phối giống và số lượng cá thể theo dõi qua ba giai đoạn: vịt con, vịt hậu bị và vịt sinh sản. Tác giả xác lập công thức tính toán tường minh cho từng chỉ tiêu kỹ thuật: tỷ lệ nuôi sống (%), khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi (g), tỷ lệ đẻ tuần (%), năng suất trứng tích lũy (quả/mái), tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (kg), chỉ số hình thái trứng, độ dày vỏ, đơn vị Haugh, tỷ lệ lòng đỏ, tỷ lệ lòng trắng, tỷ lệ vỏ, tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ vịt nở loại 1. Khẩu phần dinh dưỡng được chuẩn hóa theo từng giai đoạn phát triển sinh học kết hợp quy trình cho ăn hạn chế ở giai đoạn hậu bị nhằm kiểm soát thể trọng sinh sản.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung công bố và phân tích các số liệu thực nghiệm thu được từ hai nhóm lai BH và HB:
- Đặc điểm ngoại hình và kích thước chiều đo:
- Lúc 01 ngày tuổi ($N=500$): Cả hai nhóm con lai BH và HB đều có màu lông vàng nhạt, phớt đen ở vùng đầu và đuôi; mỏ và chân màu vàng hoặc xám.
- Lúc 20 tuần tuổi: Vịt mái có màu lông cánh sẻ, trong đó vịt BH có màu cánh sẻ đậm hơn vịt HB. Vịt trống ở cả hai nhóm có đầu, cổ và cánh màu xanh đen, đuôi có 2-3 lông móc cong. Dáng đứng tạo với mặt đất góc gần song song, ngực nở sâu, rộng, đầu và cổ to mang đặc trưng rõ nét của giống vịt hướng kiêm dụng.
Bảng kích thước một số chiều đo cơ thể của vịt lai ở 56 ngày tuổi ($N=30$):
| Chỉ tiêu đo đạc |
Vịt BH (Mean $\pm$ SE) |
Vịt HB (Mean $\pm$ SE) |
| Dài thân - DT (cm) |
23,92 $\pm$ 0,25 |
23,72 $\pm$ 0,22 |
| Vòng ngực - VN (cm) |
29,53 $\pm$ 0,23 |
29,57 $\pm$ 0,27 |
| Chỉ số VN/DT |
1,23 |
1,25 |
| Dài lườn (cm) |
12,32 $\pm$ 0,11 |
12,59 $\pm$ 0,13 |
| Cao chân (cm) |
7,46 $\pm$ 0,09 |
7,35 $\pm$ 0,09 |
| Dài lông cánh (cm) |
12,56 $\pm$ 0,25 |
12,88 $\pm$ 0,17 |
Chỉ số VN/DT của vịt BH (1,23) và HB (1,25) cao hơn vịt Biển thuần (1,22) và tương đương vịt Huba (1,24), vượt trội so với các giống vịt Cỏ (1,17 – 1,19), vịt Đốm và Bầu Bến (1,07 – 1,12). Chiều dài lông cánh ở 8 tuần tuổi của cả hai nhóm đều vượt ngưỡng 12 cm, đáp ứng tiêu chuẩn sinh học để xuất bán giết thịt.
- Tỷ lệ nuôi sống:
- Giai đoạn vịt con (1 ngày tuổi đến 8 tuần tuổi): Tỷ lệ nuôi sống đạt 97,20% ở vịt BH và 97,00% ở vịt HB. Tỷ lệ hao hụt tập trung chủ yếu ở 1-3 tuần đầu do phản xạ thích nghi môi trường còn non yếu. Mức này cao hơn vịt Huba thuần (95,78 – 96,70%) nhưng thấp hơn vịt Biển thuần (98,40 – 98,41%).
- Giai đoạn hậu bị (9 đến 20 tuần tuổi): Vịt thích nghi tốt với ngoại cảnh, tỷ lệ nuôi sống đạt 99,09% ở vịt BH và 98,18% ở vịt HB, vượt trội so với vịt Sín Chéng (95,40 – 96,00%) và vịt Đốm PL2 (84,09%).
- Khối lượng cơ thể:
Khối lượng cơ thể của vịt lai tăng trưởng nhanh từ 1 đến 5 tuần tuổi, sau đó tăng chậm dần. Vịt HB có khối lượng phát triển cao hơn vịt BH ở cả hai giới tính qua các mốc tuần tuổi.
Bảng biến động khối lượng cơ thể vịt lai qua các tuần tuổi ($N=30$, đơn vị: g):
| Tuần tuổi |
Vịt BH Trống |
Vịt BH Mái |
Vịt HB Trống |
Vịt HB Mái |
| 01 ngày tuổi |
54,42 $\pm$ 0,41 |
53,48 $\pm$ 0,36 |
53,67 $\pm$ 0,35 |
53,67 $\pm$ 0,43 |
| 2 tuần tuổi |
350,80 $\pm$ 2,24 |
303,23 $\pm$ 2,03 |
414,47 $\pm$ 2,77 |
338,41 $\pm$ 3,10 |
| 4 tuần tuổi |
853,03 $\pm$ 9,19 |
729,84 $\pm$ 8,90 |
865,10 $\pm$ 9,36 |
834,68 $\pm$ 8,03 |
| 6 tuần tuổi |
1581,67 $\pm$ 17,99 |
1312,63 $\pm$ 15,07 |
1587,27 $\pm$ 15,29 |
1497,24 $\pm$ 15,63 |
| 8 tuần tuổi |
1838,46 $\pm$ 27,56 |
1685,58 $\pm$ 24,28 |
1904,20 $\pm$ 25,21 |
1754,57 $\pm$ 22,89 |
| 12 tuần tuổi |
2242,90 $\pm$ 25,28 |
2036,42 $\pm$ 25,27 |
2355,37 $\pm$ 25,55 |
2196,46 $\pm$ 22,79 |
| 16 tuần tuổi |
2435,83 $\pm$ 22,52 |
2211,25 $\pm$ 27,38 |
2553,03 $\pm$ 25,95 |
2345,80 $\pm$ 24,80 |
| 20 tuần tuổi |
2638,70 $\pm$ 28,66 |
2405,34 $\pm$ 24,84 |
2794,57 $\pm$ 26,37 |
2503,21 $\pm$ 26,59 |
Ở 20 tuần tuổi, khối lượng vịt HB (trống 2794,57 g; mái 2503,21 g) cao hơn vịt Biển thuần (trống 2612,23 g; mái 2501,67 g) và vịt Huba thuần (trống 2323,60 g; mái 2213,48 g), khẳng định biểu hiện ưu thế lai dương về sinh trưởng thể trọng.
- Khả năng sinh sản và ấp nở:
- Tuổi đẻ bói và tuổi đẻ 5%: Vịt BH bắt đầu đẻ ở 22 tuần tuổi, tương đương vịt Biển thuần (22 tuần) và sớm hơn vịt Huba (25 tuần). Vịt HB có tuổi đẻ muộn hơn ở 23 tuần tuổi. Cả hai nhóm đều đạt đỉnh đẻ ở 33 tuần tuổi (tuần đẻ thứ 10 đối với BH đạt tỷ lệ 83,39%; đối với HB tuần đẻ thứ 9 đạt 81,14% và tuần thứ 10 đạt 80,10%).
- Khối lượng vào đẻ của vịt mái: Vịt BH đạt 2489,71 $\pm$ 27,13 g; vịt HB đạt 2563,11 $\pm$ 25,28 g.
- Tỷ lệ đẻ và sản lượng trứng qua 20 tuần đẻ: Vịt BH có tỷ lệ đẻ trung bình đạt 64,43%, năng suất trứng tích lũy đạt 90,20 quả/mái, tiêu tốn thức ăn trung bình 3,59 kg/10 quả trứng. Vịt HB đạt tỷ lệ đẻ trung bình 62,21%, năng suất trứng tích lũy 87,07 quả/mái, tiêu tốn thức ăn 3,69 kg/10 quả trứng.
- Chất lượng trứng khảo sát ở 38 tuần tuổi: Khối lượng trứng của vịt BH đạt 84,57 g, chỉ số hình thái 1,39; vịt HB đạt khối lượng trứng 84,79 g, chỉ số hình thái 1,40.
- Kết quả ấp nở: Tỷ lệ trứng có phôi của vịt BH đạt 93,15%, tỷ lệ nở/tổng trứng vào ấp đạt 78,00%. Vịt HB đạt tỷ lệ trứng có phôi 92,25%, tỷ lệ nở/tổng trứng vào ấp đạt 77,38%.
Kết quả và đóng góp
Bảng so sánh tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chính giữa hai tổ hợp lai:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Vịt lai BH (♂ Biển x ♀ Huba) |
Vịt lai HB (♂ Huba x ♀ Biển) |
| Tỷ lệ nuôi sống 1nt – 8 tuần tuổi (%) |
97,20 |
97,00 |
| Tỷ lệ nuôi sống 9 – 20 tuần tuổi (%) |
99,09 |
98,18 |
| Khối lượng cơ thể 8 tuần tuổi (Trống / Mái, g) |
1838,46 / 1685,58 |
1904,20 / 1754,57 |
| Khối lượng cơ thể 20 tuần tuổi (Trống / Mái, g) |
2638,70 / 2405,34 |
2794,57 / 2503,21 |
| Khối lượng vịt mái vào đẻ (g) |
2489,71 |
2563,11 |
| Tuổi thành thục sinh dục (tuần tuổi) |
22 |
23 |
| Tuổi đạt đỉnh đẻ cao nhất (tuần tuổi) |
33 |
33 |
| Tỷ lệ đẻ trung bình 20 tuần đầu (%) |
64,43 |
62,21 |
| Năng suất trứng tích lũy/mái/20 tuần đẻ (quả) |
90,20 |
87,07 |
| Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (kg) |
3,59 |
3,69 |
| Khối lượng trứng ở 38 tuần tuổi (g) |
84,57 |
84,79 |
| Chỉ số hình thái trứng |
1,39 |
1,40 |
| Tỷ lệ trứng có phôi (%) |
93,15 |
92,25 |
| Tỷ lệ vịt nở/tổng trứng vào ấp (%) |
78,00 |
77,38 |
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp cơ sở khoa học và số liệu thực nghiệm đầy đủ về hai tổ hợp lai chéo giữa giống vịt nội thích ứng biến đổi khí hậu (vịt Biển 15) và nguồn gen nhập nội đặc sản (vịt Huba).
- Chứng minh con lai F1 mang đặc điểm ngoại hình kiêm dụng vững chắc, có sức sống cao (tỷ lệ nuôi sống hậu bị trên 98-99%), tích lũy khối lượng tốt hơn trung bình bố mẹ và các chỉ tiêu chất lượng trứng, tỷ lệ ấp nở đều đạt quy chuẩn giống gia cầm quốc gia.
- Xác định tổ hợp lai BH cho hiệu quả sinh sản vượt trội hơn tổ hợp HB về độ thuần thục sớm (đẻ sớm hơn 1 tuần), năng suất trứng cao hơn (90,20 so với 87,07 quả) và mức tiêu tốn thức ăn thấp hơn (3,59 so với 3,69 kg/10 quả trứng); ngược lại, tổ hợp HB có ưu thế hơn về khối lượng cơ thể.
- Kiến nghị thực tiễn: Đề xuất Trung tâm tiếp tục theo dõi khả năng sinh sản của các đàn vịt lai BH và HB trong các giai đoạn đẻ tiếp theo để làm cơ sở chọn lọc, nhân thuần và tạo thành hai dòng vịt mới phục vụ cơ cấu sản xuất giống cho vùng đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Khóa luận mới theo dõi năng suất sinh sản trong phạm vi 20 tuần đẻ đầu tiên, chưa đánh giá hết chu kỳ đẻ sinh học trọn vẹn (thường là 52 tuần đẻ) của gia cầm thủy cầm.
- Thời gian nghiên cứu trực tiếp tại hiện trường diễn ra từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2022, phải kết hợp xử lý chuỗi số liệu thứ cấp được ghi chép trước đó tại Trung tâm.
- Chưa triển khai khảo sát khả năng cho thịt xẻ và chất lượng thịt thương phẩm chuyên biệt của con lai nuôi thịt ở quy mô đàn lớn tại các vùng sinh thái ngoài trạm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục theo dõi các chỉ tiêu năng suất trứng, tỷ lệ phôi, tỷ lệ ấp nở đến hết 52 tuần đẻ và chu kỳ đẻ thứ hai.
- Tiến hành ghép gia đình và chọn lọc qua các thế hệ con lai tiếp theo nhằm cố định các tính trạng di truyền mong muốn, hướng tới công nhận dòng giống vịt mới.
- Khảo nghiệm chăn nuôi bán chăn thả tại các nông hộ ở vùng ven biển và trung du để đánh giá sức kháng bệnh và hiệu quả kinh tế thực tế.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Di truyền - Chọn giống động vật tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm lai thuận nghịch, quy trình cân đo ngoại hình giải phẫu và phương pháp xử lý thống kê năng suất sinh sản gia cầm.
- Các cơ sở nghiên cứu và trung tâm sản xuất giống thủy cầm ứng dụng bảng định mức dinh dưỡng theo ba giai đoạn và quy trình quản lý vịt hậu bị hạn chế thức ăn để kiểm soát thể trọng vào đẻ.
- Người chăn nuôi và kỹ thuật viên nông trường tham khảo chỉ số tăng khối lượng, độ dài lông cánh ở 56 ngày tuổi để xác định thời điểm giết mổ kinh tế, cũng như sử dụng tổ hợp BH khi ưu tiên khai thác trứng giống hoặc tổ hợp HB khi cần ưu thế thể trọng.
Câu hỏi thường gặp
1. Điểm khác biệt rõ rệt nhất về ngoại hình giữa hai tổ hợp lai BH và HB ở giai đoạn trưởng thành (20 tuần tuổi) là gì?
Ở 20 tuần tuổi, vịt mái của cả hai tổ hợp đều mang màu lông cánh sẻ, nhưng vịt mái tổ hợp BH có màu cánh sẻ đậm hơn rõ rệt so với vịt mái tổ hợp HB. Vịt trống ở cả hai nhóm tương đồng nhau với đầu, cổ và cánh màu xanh đen, đuôi có 2-3 lông móc cong.
2. Tổ hợp lai nào có hiệu quả sinh sản và tiêu tốn thức ăn tốt hơn trong 20 tuần đẻ đầu tiên?
Tổ hợp lai BH (trống Biển x mái Huba) cho hiệu quả sinh sản tốt hơn với tuổi vào đẻ sớm hơn (22 tuần tuổi so với 23 tuần tuổi của HB), tỷ lệ đẻ trung bình cao hơn (64,43% so với 62,21%), năng suất trứng tích lũy cao hơn (90,20 quả/mái so với 87,07 quả/mái) và tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng thấp hơn (3,59 kg so với 3,69 kg).
3. Ý nghĩa của chỉ số vòng ngực trên dài thân (VN/DT) ở 56 ngày tuổi của vịt lai là gì?
Chỉ số VN/DT ở 56 ngày tuổi đạt 1,23 ở vịt BH và 1,25 ở vịt HB. Chỉ số này cao hơn giống vịt Biển thuần (1,22), tương đương vịt Huba (1,24) và vượt xa các giống vịt chuyên trứng hay vịt bản địa nhẹ cân như vịt Cỏ (1,17 – 1,19), vịt Đốm và Bầu Bến (1,07 – 1,12), chứng minh thể chất con lai phát triển cân đối theo hướng kiêm dụng (thịt - trứng kết hợp).
4. Động thái khối lượng cơ thể giữa hai nhóm con lai biểu hiện như thế nào đến 20 tuần tuổi?
Vịt HB thể hiện ưu thế phát triển thể trọng nhỉnh hơn vịt BH xuyên suốt từ giai đoạn vịt con đến hậu bị. Tại 20 tuần tuổi, khối lượng vịt trống và mái HB đạt lần lượt 2794,57 g và 2503,21 g; trong khi vịt trống và mái BH đạt 2638,70 g và 2405,34 g. Cả hai đều đạt mức khối lượng cao hơn trung bình của hai giống bố mẹ thuần.
5. Khẩu phần protein thô và năng lượng trao đổi (ME) được thiết lập cho đàn vịt thí nghiệm qua các giai đoạn phát triển như thế nào?
Khẩu phần được phân bổ theo ba giai đoạn: từ 1 ngày tuổi đến 8 tuần tuổi cung cấp 20 – 21% Protein thô và 2850 – 2900 kcal ME/kg; giai đoạn hậu bị từ 9 đến 20 tuần tuổi áp dụng mức Protein 14 – 14,5% và 2850 – 2900 kcal ME/kg; giai đoạn sinh sản trên 20 tuần tuổi cung cấp 17 – 17,5% Protein thô, 2650 – 2700 kcal ME/kg và tăng cường Canxi lên 2,5 – 4,0% phục vụ tạo vỏ trứng.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Văn Lâm đã đánh giá toàn diện đặc điểm ngoại hình và năng suất sinh sản của hai tổ hợp lai thuận nghịch giữa vịt Biển và vịt Huba tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên. Các kết quả thực nghiệm khẳng định con lai F1 mang vóc dáng kiêm dụng vững chắc, tỷ lệ nuôi sống cao ở cả giai đoạn vịt con (97,00 – 97,20%) và hậu bị (98,18 – 99,09%), đồng thời các chỉ tiêu sinh sản, chất lượng trứng và tỷ lệ ấp nở đều đạt tiêu chuẩn giống tốt. Công trình tạo tiền đề kỹ thuật và cơ sở khoa học quan trọng cho việc tiếp tục theo dõi, tuyển chọn để hình thành hai dòng vịt mới thích ứng sinh thái phục vụ phát triển chăn nuôi tại Việt Nam.