Đặt vấn đề Chăn nuôi thủy cầm ở nước ta đã phát triển mạnh trong những năm qua và là nước có đàn thủy cầm lớn thứ 2 thế giới về tổng đàn trên 103,2 triệu con, trong đó đồng bằng sông Hồng chiếm 28,93%, đồng bằng sông Cửu Long chiếm 28,07% trong tổng đàn thủy cầm của cả nước (theo TCTK tháng 6 năm 2022). Có được những thành tựu trên là nhờ vào công tác chọn lọc, lai tạo ra nhiều giống có năng suất cao, phẩm chất tốt, ph hợp với nhiều phương thức chăn nuôi và v ng sinh thái khác nhau. Qua đó đáp ứng được các yêu cầu sản xuất và thị hiếu ngày càng cao của người tiêu d ng. Để thúc đẩy và phát triển chăn nuôi thủy cầm ở nước ta thì việc nhập nội các nguồn gen chất lượng cao đồng thời kết hợp với việc nghiên cứu khai thác hiệu quả các nguồn gen nhập nội đóng một vai trò quan trọng.
Nhiều đề tài nghiên cứu đã chọn lọc tạo thành công các dòng vịt chất lượng cao từ các nguồn nguyên liệu nhập tại các cơ sở giống trong nước. Một số dòng giống vịt được chọn tạo từ các nguyên liệu nhập như V12, V17, V22, V27, V52, V57 tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi Gia cầm VIGOVA dòng T5, T6, TS132, TS142, vịt chuyên trứng TC1, TC2, Triết Giang tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên. Như vậy, việc nhập nội các nguồn gen quý là hết sức có ý nghĩa cho sản xuất vịt trong nước. Giống vịt Biển được nghiên cứu và chọn tạo tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên có năng suất cao, thích nghi được với môi trường nước ngọt, lợ và mặn.
Đây là giống vịt kiêm dụng đang có lợi thế phát triển nhất tại Việt Nam. Năng suất trứng đạt 245,31 quả/mái/52 tuần đẻ. Tiêu tốn thức ăn đạt 3,47 kg/10 quả trứng. Khối lượng trứng đạt 82,76 g/quả.
Chỉ số hình thái đạt 1,41. Đơn vị Haugh đạt 90,08. Tỷ lệ trứng có phôi đạt 94,23 %, tỷ lệ vịt con loại 1/số con vịt nở ra đạt 96,22 % (Vương Thị Lan Anh, 2020). 1 Thông qua dự án với sự h trợ của phía Hungary để chúng ta có được nguồn gen vịt Huba là rất quan trọng để làm đa dạng di truyền nguồn gen vịt tại Việt Nam và là nguyên liệu cho công tác giống.
Tại Hungary giống vịt Huba (nhóm lông màu cánh sẻ) có nguồn gốc từ vịt hoang dã, được nuôi giữ bảo tồn tại Viện KÁTKI có chất lượng thịt thơm ngon, da mỏng, ít mỡ, được xem là một đặc sản, được nhập vào Việt Nam làm nguồn gen để chọn lọc, nhân giống sản xuất sản phẩm thịt vịt chất lượng cao sẽ đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao. Vịt Huba nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên có năng suất trứng đạt 207,16 - 217,71 quả/mái/52 tuần đẻ. Khối lượng trứng 83,59 - 83,61g/quả tỷ lệ trứng có phôi đạt cao trên 93,33%, tỷ lệ vịt con loại 1/số vịt con nở ra đạt trên 96,17% (Đào Anh Tiến, 2022). Trên cơ sở hai nguồn gen quý vịt Biển và vịt Huba.
Để phát huy hết tiềm năng của các giống vịt này chúng tôi tiến hành lai giữa vịt Biển và Huba để tạo ra con lai có ưu thế lai cao hơn so với trung bình vịt bố mẹ, đồng thời thích nghi được với điều kiện môi trường tại Việt Nam tạo ra nguồn giống mới phục vụ cho v ng đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của vịt lai giữa vịt Biển và Huba tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên”. Mục đích – yêu cầu Mục đích Đánh giá đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của vịt lai giữa vịt Biển và Huba tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên Yêu cầu - Nêu được đặc điểm ngoại hình của vịt lai giữa vịt Biển và vịt Huba. Theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của con lai tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên và có sử dụng số liệu thứ cấp của Trung tâm trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của lai tạo và ưu thế lai 2. Cơ sở nghiên cứu lai kinh tế Trong quá trình nghiên cứu di truyền, nguyên tắc hoàn toàn mới được Mendel đưa vào để nghiên cứu, đó là phương pháp lai, liên quan đến việc nghiên cứu đặc điểm di truyền của từng tính trạng và đặc tính riêng rẽ. Phương pháp này do ông phát hiện và hình thành nên các quy luật cơ bản của di truyền.
căn cứ vào mục đích lai tạo người ta thường áp dụng những phương pháp lai khác nhau như: lai kinh tế, lai luân chuyển, lai cải tiến (lai pha máu), lai cải tạo, lai phối hợp (lai tạo thành). Lai kinh tế là phương pháp phổ biến nhất. Lai kinh tế là lai giữa các cá thể thuộc các dòng khác nhau của giống, giữa hai giống khác nhau hoặc thuộc hai giống khác loài. Để sử dụng con lai F1 làm sản phẩm, con lai này không để làm giống mà chỉ để lấy sản phẩm hay tăng sinh trưởng.
Thông thường, người ta tiến hành lai kinh tế là để sử dụng ưu thế lai vì ưu thế lai làm tăng mức trung bình tính trạng giữa hai giống gốc, hai dòng thuần, nhất là những tính trạng số lượng, con lai có thể mang những đặc tính trội của giống gốc bố mẹ, có thể phối hợp được đặc tính của bố mẹ, có thể giữ nguyên tính bảo thủ của một trong hai giống gốc. Muốn đạt được ưu thế lai là siêu trội thì phải cho giao phối các dòng vịt có xuất phát khác nhau về kiểu gen nhưng phải có khả năng kết hợp tốt với nhau. Đối với gia cầm cho giao phối giữa hai hay nhiều dòng trong c ng giống hay giữa nhiều giống sẽ phối hợp được nhiều đặc tính có lợi cũng như tăng cường chức năng sinh hoá của con lai, do vậy mà năng suất được tăng lên. Muốn đạt được sự phối hợp cao giữa các dòng, công tác chọn giống phải theo một hướng nhất định, nếu không thì sự phối hợp giữa các dòng sẽ kém và năng suất chất lượng của thế hệ con lai sẽ bị giảm sút.
Bởi vậy để tạo 3 ra được những gia cầm lai có năng suất chất lượng tốt thì việc lựa chọn các cặp lai là điều không thể thiếu được trong công tác giống. Trong chăn nuôi gia cầm, tuỳ theo điều kiện và mục đích khác nhau mà người ta sử dụng lai đơn hay lai kép, hay phản giao. Lai đơn: là phương pháp cho giao phối giữa hai phẩm giống khác nhau để tạo những con lai Fl có ưu thế lai cao d ng để nuôi thịt hay sản xuất trứng, không nhằm mục đích sinh sản ra những con vật để làm giống Theo Ngô Văn Vĩnh và cs. (2008) cho biết con lai giữa ngan R71 và vịt M14 có tỷ lệ nuôi sống đến 70 ngày tuổi đạt 100%, khối lượng cơ thể 10 tuần tuổi đạt 3601,3g với tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng là 2,90kg.
Khi mổ khảo sát tỷ lệ thịt xẻ đạt 72,08% thịt ức đạt 16,87% và tỷ lệ thịt đ i là 12,83%. Lai kép: là phương pháp sử dụng lai giữa 3 - 4 dòng trong c ng một giống để tạo ra con lai thương phẩm 3 - 4 máu. Lê Sỹ Cương và cs. (2009) tiến hành nghiên cứu về tổ hợp lai 4 dòng vịt CV.
Super M cho biết: con lai T5164 có tỷ lệ nuôi sống cao nhất, đến 8 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống đạt 100%, khối lượng cơ thể của tổ hợp lai này cũng cao nhất trong 4 tổ hợp lai ở 8 tuần tuổi đạt 3221,7g/con, tiếp đến là tổ hợp lai T5146 đạt 3169,6g/con, tổ hợp lai T1564 đạt 3142,6g/con và thấp nhất ở tổ hợp lai T1546 đạt 3124,6g/con và con lai 4 dòng đóng góp lớn vào việc sản xuất theo hệ thống giống. Phản giao: tiếp theo lai đơn giản người ta d ng con lai phối hợp với một trong hai giống gốc khởi đầu 2. Cơ sở khoa học của ưu thế lai Sự biểu hiện ưu thế lai trên cơ thể lai trong chăn nuôi rất đa dạng, khác nhau ở các tính trạng. Sự ưu việt của con lai không chỉ thể hiện ở sự cao hơn về giá trị tính trạng so với trung bình bố mẹ mà con biểu hiện bằng mức độ tối ưu của tính trạng.
Nguyễn Ân và cs. (1983), Kushnes (1974), Trần Đình Miên và cs. (1994) cho rằng: 4 Con lai F1 của những công thức lai xa khác giống vượt trội bố mẹ về thể chất, tuổi thọ, sức làm việc, nhưng mất một phần hay hoàn toàn khả năng sinh sản. Con lai F1 vượt trội hơn trung bình bố mẹ về khối lượng cơ thể và sức sống, có khả năng sinh sản bình thường hoặc tốt hơn bố mẹ.
Con lai F1 biểu hiện ưu thế lai đặc biệt là trường hợp nếu xét về một tính trạng riêng lẻ thì có kiểu di truyền trung gian nhưng sản phẩm cuối c ng về một mặt nào đó lại vượt trội trung bình bố mẹ. Như vậy trên cơ thể lai, ưu thế lai không biểu biểu hiện đồng loạt ở tất cả các tính trạng, trên tất cả các giai đoạn, sự biểu hiện này còn phụ thuộc vào từng cặp cụ thể, các yếu tố ngoại cảnh, giai đoạn phát triển. Bản chất di truyền của ưu thế lai Bản chất di truyền của ưu thế lai là trạng thái dị hợp tử ở con lai, từ đó người ta nêu ra 3 giả thuyết về ưu thế lai (Nguyễn Ân và cs, 1983 Nguyễn Văn Thiện, 1995). - Thuyết tập trung gen trội có lợi Trong quá trình tiến hóa, dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, cái gen trội bất lợi tự đào thải, gen trội có lợi được tăng lên.
Trong khi đó các gen lặn bất lợi vẫn tồn tại ở trạng thái dị hợp tử bên cạnh gen trội có lợi. Khi cho giao phối cận huyết, các quần thể sẽ phân hóa thành các dòng khác nhau ở trạng thái đồng hợp tử theo các gen trội có lợi khác. Khi lai các dòng này với nhau dẫn đến con lai F1 tập hợp được các gen trội có lợi ở bố và mẹ làm xuất hiện ưu thế lai. Do các gen trội khác nhau là những thành viên của các cặp nhiễm sắc thể tương đồng khác nhau, vì vậy khi tổ hợp lai ở thế hệ F2, các bộ phận gen trội này sẽ nhỏ hơn F1.
Kết quả ở F2 ưu thế lai giảm. 5 - Thuyết dị hợp tử và siêu trội Thuyết dị hợp tử chính là sự dị hợp tử của nhiều gen làm xuất hiện ưu thế lai.