Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm di truyền các tính trạng số lượng của thủy cầm Khi nghiên cứu các tính trạng về năng suất của một giống thủy cầm trong một môi trường chăn nuôi cụ thể là nghiên cứu yếu tố di truyền và ảnh hưởng của những yếu tố ngoại cảnh lên các tính trạng đó. Mọi chỉ tiêu có thể xác định bằng việc cân, đo, đong, đếm đều là tính trạng số lượng hay tính trạng đo lường.
Tác giả Nguyễn Văn Thiện (1995), cho biết giá trị kiểu gen do các gen có hiệu ứng riêng biệt nhỏ, tuy nhiên khi tập hợp được nhiều gen thì tính trạng bị ảnh hưởng rõ rệt, chúng sẽ gây ra các hiệu ứng cộng gộp, trội và át gen. Ngoại cảnh chịu tác động lớn tới tính trạng số lượng. Theo Đặng Vũ Bình (1999) cho biết những tính trạng số lượng muốn hiển thị đặc tính thì người ta sử dụng khái niệm giá trị, các số đo đó dùng để đánh giá các tính trạng số lượng. Giá trị kiểu hình thu được trong quá trình đánh giá một tính trạng số lượng của mỗi cá thể.
Giá trị kiểu gen chịu tác động của kiểu gen và sai lệch môi trường. Quan hệ trên có thể được biểu thị như sau: P=G+E Trong đó P: là giá trị của kiểu hình (phenotypic value) G: là giá trị của kiểu gen (genotypic value) E: là sai lệch môi trường (environmental deviation) Giá trị kiểu gen được hoạt động theo 3 phương thức: Phương thức cộng gộp, phương thức sai lệch trội-lặn và phương thức át chế gen (đây là sự tương tác giữa các gen). Có 3 phương thức biểu diễn giá trị kiểu gen: G=A+D+I G : là giá trị của kiểu gen A : là giá trị cộng gộp (hay giá trị giống của cá thể) D : sai lệch trội- lặn I : sự tương tác giữa các gen gây sai lệch 4 Giá trị cộng gộp hay giá trị giống của cá thể (A): được xác định bằng giá trị trung bình ở đời con cá thể đó. Vì thế bố mẹ sẽ khác kiểu gen với con cái, do không thể hoàn toàn truyền tất cả các gen của bố mẹ sang cho con, do đó không thể sử dụng định nghĩa hiệu quả trung bình của gen khi xác định giá trị kiểu gen trung bình ở đời con.
Sai lệch trội lặn (D): khi đánh giá trên một locus, sự tương tác qua lại giữa các alen tại một locus sẽ sinh ra sai lệch trội D. Quan điểm thống kê cho thấy, sự tương tác giữa hai allen hay tương tác trong locus là sai lệch trội. Sai lệch tương tác của các gen (I): là sai lệch do tác động của các gen không cùng locus mà có thể tác động từ hai đôi locus trở lên, tác động này cũng có thể xảy ra giữa các allen ở các locus khác nhau. Môi trường (E) gây nhiều ảnh hưởng đến các tính trạng số lượng, nhưng phần lớn các tính trạng số lượng do các đơn gen quy định thì sẽ chịu ảnh hưởng ít hơn.
Các yếu tố môi trường tác động đến tính trạng số lượng như: - Sai lệch ngoại cảnh chung (Eg): là yếu tố ngoại cảnh gây ảnh hưởng đến quần thể. - Sai lệch ngoại cảnh riêng (Es): là yếu tố ngoại cảnh gây ảnh hưởng đến từng cá thể trong quần thể. Khi kiểu hình của cá thể được tạo ra từ hai locus trở lên thì giá trị kiểu hình của cá thể đó được thể hiện qua công thức: P = A + I + D + Es + Eg Chúng ta muốn tác động về mặt di truyền (G) thì phải tránh cận huyết, hiệu ứng cộng gộp (A) bị tác động bằng cách chọn lọc, át gen (I) bị tác động bằng cách phối giống tạp giao, tác động vào các hiệu ứng trội (D) và môi trường (E) bằng việc nâng cao điều kiện môi trường nuôi như thức ăn, nước uống, quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh,.qua đó nâng cao năng suất của vật nuôi. Các tham số thống kê và di truyền hay được sử dụng là: - Số trung bình cộng.
- Hệ số biến dị. - Độ lệch tiêu chuẩn. Đặc điểm ngoại hình của thủy cầm Đặc điểm ngoại hình của thủy cầm được thể hiện qua màu sắc của lông, hình dáng của thủy cầm, mỏ và chân từ đó có thể phân biệt giống, dòng chuyên thịt, chuyên trứng hay là kiêm dụng cụ thể: Màu sắc lông: Màu sắc lông là đặc điểm ngoại hình quan trọng để phân biệt giống, dòng của thủy cầm nói riêng và gia cầm nói chung. Không những thế màu sắc lông đối với một số thủy cầm còn để phân biệt trống mái khi mới nở, đặc biệt ở vật nuôi trưởng thành thì màu sắc lông con thể hiện rõ sự khác nhau.
Màu lông trắng tuyền hoặc màu sáng là đặc trưng của thủy cầm hướng thịt và màu lông này có giá trị hơn thủy cầm lông màu vì khi giết thịt không để lại gốc lông, còn ở các giống thủy cầm hướng trứng và kiêm dụng thì thường có màu lông cánh sẻ. Hình dáng: Hình dáng của thủy cầm giúp nhận biết tính năng sản xuất chuyên biệt của chúng và là một yếu tố quan trọng khi đánh giá ngoại hình. Các giống thủy cầm hướng trứng thường có ngoại hình nhỏ, gọn, thanh, mảnh và có 0 dáng đứng so với mặt đất một góc gần 90 , thủy cầm hướng thịt thì có hình dáng to, hình chữ nhật, dáng đứng thường gần song song với mặt đất; thủy cầm kiêm dụng 0 thường có dáng tạo với mặt đất một góc khoảng 45. Chân và mỏ: là sản phẩm của da và tạo thành từ lớp sừng có các màng dày bao bọc, ở chân vịt thì thường có màu phù hợp với màu của mỏ, có màng bơi là phần cấu tạo không có lông giúp vịt bơi lội linh hoạt trong nước.
Mỏ của vịt rất nhạy cảm về thần kinh, mỏ của chúng nhiều xúc giác nên chúng có thể tìm được thức ăn ở trong nước, mỏ có nhiều màu khác nhau như: vàng, đen, xám, xanh lục, hồng… và mỗi giống có các mầu mỏ khác nhau. Theo tác giả Bùi Thị Thắm (2016) nghiên cứu về vịt Bầu Bến đàn hạt nhân nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại xuyên cho biết vịt con mới nở có màu lông chủ yếu là xám đen có khoang vàng, mỏ và chân có màu vàng nhạt. Ở vịt trưởng thành có màu lông cánh sẻ sẫm, một số ít có màu trắng tuyền và khoang trắng đen. Chân thấp màu vàng cam và mỏ màu vàng xám.
Theo tác giả Mai Hương Thu (2015) khi nghiên cứu trên vịt Biển 15 - Đại Xuyên cho biết vịt 1 ngày tuổi có lông màu vàng nhạt, có phớt đen ở đầu và đuôi; mỏ 6 và chân màu vàng nhạt, số ít hơi xám hoặc xám đen. Vịt trưởng thành có lông màu cánh sẻ, lông cánh xanh đen, cổ khoang trắng; con trống sẫm màu hơn con mái, có lông móc cong. Sức sống và khả năng kháng bệnh của thủy cầm Sức sống của thủy cầm là tính trạng di truyền số lượng đặc trưng cho từng cá thể và là một trong yếu tố ảnh hưởng trực tiếp để đánh giá quá trình chăn nuôi có đem lại hiệu quả kinh tế hay không. Sức đề kháng bị suy giảm khi đàn thủy cầm mắc bệnh khi đó chúng rất dễ nhiễm bệnh gây chết nhanh, đồng loạt với số lượng lớn gây ra thiệt hại kinh tế lớn.
Đặc biệt là khi đàn thủy cầm mắc các bệnh truyền nhiễm thì mọi chi phí cho vắc-xin và các biện pháp thú y khác sẽ tăng lên. Tỷ lệ nuôi sống là chỉ tiêu gián tiếp thể hiện sức sống và khả năng kháng bệnh, tỷ lệ nuôi sống của vật nuôi cao chứng tỏ sức sống và khả năng kháng bệnh của vật nuôi tốt. Khajarern (1990) cho biết xét theo khả năng thích nghi thì vịt là loài vật có khả năng thích ứng tốt với điều kiện sống do có khả năng sinh học đặc biệt, chúng có khả năng sử dụng thức ăn thừa và đồng thời cũng là loài có khả năng kiếm mồi tốt. Theo Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) ở tất cả các phương thức chăn nuôi tập trung thì đều có rất nhiều các tác nhân truyền nhiễm gây bệnh là vi khuẩn, vì vậy việc đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi là rất quan trọng trong đó phòng ngừa dịch bệnh là một quy trình không thể thiếu.
Khả năng sinh trưởng của thủy cầm 1. Khái niệm về sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích lũy hữu cơ do dị hóa và đồng hóa và là quá trình tăng khối lượng cơ thể, chiều cao, chiều dài, bề ngang của vật nuôi trên cơ sở di truyền từ thế hệ trước. Quá trình tích lũy từ từ các chất mà trong đó protein là chủ yếu chính là quá trình sinh trưởng. Tác giả Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), sinh trưởng là quá trình tế bào phân chia, thể tích tế bào tăng lên và thể tích giữa các tế bào với nhau cũng tăng lên qua đó hình thành nên sự sống.
Quá trình sinh trưởng ở mỗi giai đoạn 7 được biểu diễn qua nhiều hình thức khác nhau, quá trình sinh trưởng được phân chia qua các giai đoạn như: giai đoạn phát triển của phôi trong trứng, giai đoạn phát triển của phôi khi ấp nở, giai đoạn gia cầm con và giai đoạn gia cầm trưởng thành. Yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng Trong chăn nuôi có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm như: giống, dòng, giới tính, lứa tuổi, chế độ dinh dưỡng và yếu tố môi trường. Các giống, dòng ảnh hưởng đến sinh trưởng: Quá trình sinh trưởng của gia cầm chịu ảnh hướng lớn từ giống và dòng. Nhiều công bố của các tác giả đã chỉ ra quá trình sinh trưởng của cá thể giữa các giống, dòng có sự khác nhau.
Giữa vịt chuyên thịt và vịt kiêm dụng, giữa vịt trống và vịt mái có khối lượng khác nhau. Kết quả nghiên cứu Nguyễn Đức Trọng (2007) cho biết vịt CV. Super M2 được nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên, ở 8 tuần tuổi vịt dòng trống khối lượng củacon trống và con máiđạt lần lượt là 2830g; 2269g, vịt dòng mái con trống và con mái có khối lượng trung bình đạt lần lượt là 2662g; 1964g. Theo tác giả Phùng Đức Tiến và cs.
(2008), vịt bố mẹ SM3 được nuôi tại trạm Cẩm Bình có khối lượng ở 8 tuần tuổi đối với con trống AB là 2423,67g, mái CD là 2100,9g, đến 24 tuần tuổi trống AB là 4230,8g, mái CD là 3309,2g. Ảnh hưởng của giới tính: Giới tính khác nhau thì cấu tạo và chức năng sinh lý khác nhau, dẫn đến quá trình trao đổi chất và quá trình đồng hóa, dị hóa cũng không giống nhau.