CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ VÀ THỂ THƠ TRONG THƠ TẾ HANH. Đặc điểm ngôn từ: Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Ngôn từ nghệ thuật trong văn học là sự kết tinh cao nhất, sự thăng hoa từ ngôn ngữ toàn dân. Giá trị bền vững của một tác phẩm một phần nhờ vào sức sống của ngôn từ.
Thơ ca là tiếng nói của trái tim, của tình cảm nên ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ được chọn lọc, kết tinh cao độ. Như vậy, sáng tạo văn chương cũng đồng thời là quá trình sáng tạo ra ngôn từ nghệ thuật. Ngôn từ thơ Tế Hanh mang những đặc điểm riêng của phong cách Tế Hanh, đồng thời cũng mang những dấu ấn chung của ngôn ngữ trong giai đoạn xã hội đương thời. Ngôn từ thơ Tế Hanh giai đoạn 1954 -1975 nằm chung trong ngôn ngữ thơ chống Mỹ cứu nước.
Nhưng ở thơ Tế Hanh thế giới ngôn từ nghệ thuật ấy có những đặc điểm riêng nổi bật mà khó lầm lẫn với các nhà thơ khác cùng thời. Ngôn từ giản dị, mộc mạc, trong sáng gần với lời nói thông thường: Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê biển, Tế Hanh đã in sâu trong tiềm thức của mình nét ngôn ngữ giản dị, mộc mạc của người dân sông nước. Ngoài việc kế thừa và phát huy năng lực sáng tạo của cha ông, nhà thơ còn có một tấm lòng chân thật "đến với thơ ca bằng sự thành thật,. không thể ngờ được".
"Tế Hanh đã sống hồn nhiên giữa cuộc đời và ít giấu mình trên trang giấy. Trong đời đã vậy, mà trong nghệ thuật lại càng như vậy. Trong bối cảnh mà mỗi nhà nghệ sĩ cũng là một nhà chính trị. chất hồn nhiên bản năng là điều đáng quí.
Giai đoạn chống Mỹ, Tế Hanh đã đưa vào thơ một cách tự nhiên, chân thật, không cầu kỳ hàng loạt những lớp từ bình dân. Và "cái hay của Tế Hanh là ở sự tự nhiên, giản dị, trong sáng,. Ta có cảm giác như anh không cần đẽo gọt công phu mà tự nhiên nó thốt ra như thế" (68, tr. Đưa tiếng nói của quần chúng vào thơ là một cố gắng của thơ kháng chiến nói chung và là một đặc điểm nghệ thuật của ngôn từ thơ Tế Hanh.
Điều này chứng tỏ Tế Hanh đã có một quan niệm đúng, một tình cảm chan hòa với nhân 18 dân, một nhận thức mới về tiếp thu truyền thống và sang tạo. Từ đó sáng tác của Tế Hanh đáp ứng được nhu cầu thực tế và đạt hiệu quả nghệ thuật. Người đọc nhận thấy trong thơ Tế Hanh hàng loạt những tên sông, tên đất, tên người,. số liệu, thời gian xuất hiện một cách chân thực, cụ thể.
Những tên đất quen thuộc: Quảng Ngãi, Mỏ Cày, Phú Lợi, Mộc Châu, Bình Định,. những dòng sông Trà Bồng, Trà Khúc, Nậm Rôm, Hiền Lương, sông Lam, sông Mê Kông, sông Mã. gắn với những địa danh ấy là những cách gọi tên người bình dị của làng quê: chị Duyên, anh Hải, chị Diệu, chị Lý, anh Vịnh, chị Vân, em Ái, Thủy, Yên,. Lớp từ này xuất hiện với mặt độ khá dày đặc trong tác phẩm góp phần làm cho lời thơ cụ thế, gần gũi với cuộc sống.
Và cái chân thật đến không ai ngờ được khi đọc những câu: Một chấm đỏ trên bản đồ nước Việt Một chấm xanh trên bãi Thái Bình Dương. (Tiếng sóng) Dừng chân dưới một quả đồi Gỡ từng sợi cỏ, tôi ngồi nhìn thu. (Thu) Cách nói thẳng, bộc trực như vậy giúp lời thơ thêm rõ ràng trong sáng, không cầu kỳ mà giản dị, tự nhiên. Khi lòng căm thù sục sôi, lời thơ Tế Hanh như lời nói hàng ngày đầy căm phẫn: Chúng tao chi có câu này Thề cùng giặc Mỹ có mày không tao .Nơi chúng bay giết người Thì chúng bay phải chết.
(Câu chuyên quê hương) 19 Tế Hanh sử dụng rất nhiều những từ mang phong cách khẩu ngữ tạo nên không khí cuộc sống làng quê rất dân dã, bình dị góp phần làm nên đặc điểm ngôn từ trong thơ như: bấm tay, đó đây, ngước nhìn, chắc gì, quá chừng, lột vỏ, sáng trưng, nhìn vô, mắc nghẹn, nát bét, lởn vờn, ngủ vùi, nhỡ, tận số, bèn kể lể, nín lặng, chắc là, chòm xóm, lén lút, ngóng, rùm beng, xỏ lá, sạch trơn, ghé. chơi, mạt vận, đừng hòng, chưa từng thấy, con nít, không hề, bộ hạ, ế ẩm, ruột rà, mặt mày, thò lò, lần chót, vụ chót, đừng mong,. Đây là một chú ý, một biểu hiện của nghệ thuật ngôn từ mà tác giả mong muốn: Tôi muốn viết những lời thơ dễ hiểu Như những lời mộc mạc trong ca dao. (Điệu quê hương) Trong thơ Tế Hanh hình thức ngôn ngữ đối thoại rất phổ biến.
Ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ kể chuyện trong thơ làm chúng ta cảm thấy như lời nói hàng ngày. Bởi không chỉ bản thân ngôn ngữ mà cách diễn tả ngôn ngữ trong thơ cũng đơn giản dễ hiểu. Đọc những câu thơ như thế chúng ta có cảm giác như đọc những câu văn xuôi, câu nói hàng ngày nhưng giàu sức biểu cảm, đạt hiệu quả cao trong việc biểu lộ cảm xúc. Nếu ai hỏi ta: chân lý ở đâu? Ta sẽ trả lời: chân lý Từ một lời di chúc cửa tình thương.
(Bác để lại) Có khi cả bài thơ được Tế Hanh xây dựng theo kết cấu đối thoại giữa hai nhân vật bằng ngôn ngữ nói như: Mẩu chuyện ở Quảng Bình, Câu chuyện hai người gặp lại, Những câu hỏi dưới đất, Ngày mai khi trở về,. Trong suốt Mẩu chuyện ở Quảng Bình là lời đối thoại giữa hai nhân vật: Anh hãy để tôi xuống! Tôi còn đi được mà -Chị để tôi cõng chị Đường bệnh Viện còn xa. 20 Lời thơ kể chuyện tự nhiên mà có sức truyền cảm. Chẳng hạn đoạn cụ già vớt được xác anh Hải trong Chị Duyên anh Hải: Chị Duyên ơi! trời chẳng phụ người hiền.
Nên chúng tôi vớt được anh lên: Anh ở với bà con, nghe anh Hải! Mặt khác, hệ thống những từ chỉ thời gian ước định như: thuở trước, ngày trước, hôm đó, xưa kia, cách đây mười năm, mười năm về trước, ngày mai, ngày nào, mới ngày nào,.giúp ngôn từ thơ Tế Hanh có tính khái quát đồng thời mang đậm sắc thái dân gian phù hợp với phong cách khẩu ngữ quen thuộc của người dân. Cuộc đời thuở trước lênh đênh Mẹ cha không tấm lưới mành nuôi con. (Hai lời rủa và một khúc ca) Chiếc cầu Pháp đổ năm xưa Chiếc cầu Mỹ cũng lại vừa nổ tung (Ba chiếc cầu ở Đông Hà) Cũng như các nhà thơ đương thời, giai đoạn chống Mỹ hiện thực cuộc sống đi vào thơ Tế Hanh ngày càng phong phú, đa dạng. Ngôn từ trong thơ Tế Hanh không những gần với tiếng nói của quần chúng lao động mà có cả một lớp ngôn ngữ của thời chiến mang dấu ấn của thời đại như các loại: bom, đạn, pháo, súng, khẩu hiệu chiến tranh,.
Khi quân thù đem tre cọc, thép gai Dồn dân chúng trong khu trù mật .Hay mới đây trong những trận càn Ấp chiến lược, mẹ còn không hỡi mẹ. 21 (Mẹ mãi còn) Đặc biệt những sự kiện, những chiến công được ghi lại rõ ràng trong từng thời gian cụ thể. Có bài thơ lời thơ ngắn gọn chứa những số liệu cụ thể như lời nói thông thường nhưng giàu sức gợi ẩn chứa lòng căm thù sâu sắc.000 dân Đóng 25000 lính Mỹ. Cứ hai người dân 1 thằng lính Mỹ 50% cửa nhà phá hủy Chi bộ 13 đồng chí quyết tâm bám dân đánh Mỹ 18 tháng sau cứ 7 tên mất 1 thằng giặc Mỹ.
(Những con số) Nếu ở Tế Hanh ngôn ngữ của cuộc chiến đem đến cho thơ ca tiếng nói đầy căm phẫn đánh thẳng vào địch, giành lại hòa bình thống nhất thì thơ Huy Cận không khí cuộc chiến vẫn đem lại cho nhà thơ niềm lạc quan, yêu đời, tin tưởng chiến thắng. Mặc cho mưa bom bão đạn, cuộc sống nơi hầm sâu trong lòng đất vẫn diễn ra bình thường trong không khí ấm áp của gia đình. 22 Những nhà hầm như cuộc sống soi gương .Mẹ ta xuống đó với khói cơm thơm Con ta xuống đó với vần bằng trắc, Với dấu huyền dấu sắc Mà rốc két; bom bi không đảo ngược được bao giờ. (Chào Vĩnh Linh đất thánh) Ngay những bài thơ Đường như thấtt ngôn tứ tuyệt, Tế Hanh cũng bình thường hóa chúng làm cho gần gũi hơn, lời thơ cũng mộc mạc như lời nói hàng ngày bởi việc sử dụng toàn ngôn ngữ thuần Việt mang dấu ấn của thời chiến, cách ngắt nhịp, chấm câu thay đổi.
Tiêu biểu như bài Mẹ: Mẹ tám mươi. Con nghĩ không còn Giặc ném quê mình mấy trận bom Sáng nay mẹ nhắn tin ra.- Mẹ! Mười sáu năm trời chớ giận con. Thơ lục bát cũng được bình thường hóa như câu nói văn xuôi thông thường bởi ngôn từ giản dị, hiện tượng vắt dòng, chấm câu giữa dòng. Giữa khoảng trời đêm Vành trăng như thể mắt em soi đường.
(Mùa thu tiễn em) Ngoài ra, thơ Tế Hanh còn có khá nhiều những từ có tính cụ thể hóa rõ nét tính chất, trạng thái, mức độ của sự vật, hiện tượng góp phần làm cho lời thơ vừa rõ ràng vừa chân chất. Với Tế Hanh đã sáng thì là sáng trưng, sáng rực, sáng chói, sáng ngời, .trong thì trong trẻo, trong vắt, trong xanh, trong veo,.trắng thì trắng trẻo, trắng phau, trắng bệch,. xanh thì xanh biếc, xanh lam, xanh lơ, xanh rờn, xanh non, xanh già, xanh um,.mát lừng, 23 mạt rượi, đen nhánh, đen sì,. Và Tế Hanh cũng thành công trong việc vận dụng từ láy làm cho ngôn từ thơ cụ thể, giàu hình tượng như : long lanh, bát ngát, rộn ràng, ríu rít, rì rào, nơi nơi, mênh mông, lấp lánh,.
Anh nhìn ra bát ngát từng không Thấy mặt em hiện giữa mênh mông Rừng cây dài hay tóc em đen nhánh Và dòng suối trong ánh trăng lấp lánh. (Cảnh!) Hơn nữa, cách nói thẳng, nói thật, việc sử dụng rất nhiều những thán từ: ối, ơi, hỡi,. đã gợi lên nỗi lòng của nhân vật trữ tình đồng thời thấy được vẻ hồn nhiên chân thực của phong cách khẩu ngữ. Hỡi hàng dừa xanh Bình Định - Tam Quan Xinh đẹp quá và anh dũng quá! Bình Định ơi! Mảnh đất miền Nam .Đất anh hùng ! Ơi miền Nam, miền Nam.
(ChàoAriLão) Có thể nói, lượng thành ngữ trong thơ Tế Hanh xuất hiện nhiều bằng những cách khác nhau: 37 lần trong 250 bài thơ được khảo sát, giúp ngôn từ thơ Tế Hanh hàm súc, gợi cảm và bình dị. Quê ta lửa bỏng dầu sôi Bọn Mỹ ngụy thẳng tay bắn giết Không ngày nào không máu chảy xương rơi. Sống giữa lũ đầu trâu mặt ngựa 24 Những hận thù càng âm ỉ ngày đêm. (Cảnh 2) Không những thế, cách nói của nhà thơ cũng bình dị, mộc mạc như khẩu ngữ.